Chương 31: Thầy đi, đội ở lại
– Đừng báo cho ba em biết trước. – Thầy Thạc nói. – Để tôi tự chào.
Đó là câu cuối cùng thầy nói với Quyến về chuyện đó, trưa thứ Ba. Cô vừa ghi địa chỉ nhà lên một mảnh giấy xé từ cuốn tập: tên xã, tên thôn. Con đường đất đỏ rẽ trái sau cái giếng khoan nhà ông Y Sơn. Căn nhà ván mái tôn có cây sứ trước sân. Thầy gấp mảnh giấy làm tư, bỏ vào túi áo sơ mi, ngay trên ngực trái, chỗ thầy đã bỏ tờ giấy bị gạch đỏ của cô hồi tháng Chín.
– Thầy đi khi nào?
– Tôi cần vài ngày. – Thầy nói. – Tuần này có lịch chấm đồ án năm năm. Tôi không bỏ được. Thứ Năm tuần sau tôi đi.
Thầy cầm cái hộp thiếc đi ra khỏi xưởng. Chú Lợi đứng ngoài sân, thấy thầy đi ngang, không nói gì, chỉ gật đầu. Thầy cũng gật đầu.
Mười ngày sau đó, Quyến sống như người đứng ở chiếu nghỉ, không đi lên cũng không đi xuống.
Cô không gọi cho ba. Thầy đã dặn. Mà cô cũng không biết nếu gọi, cô sẽ nói gì. Cô gọi cho má tối Chủ nhật như mọi tuần, nói chuyện học, chuyện cuộc thi, chuyện cô đang ở nhờ nhà bạn vì ký túc xá sửa điện. Đó là lời nói dối lớn nhất cô nói với má trong cả năm, và cô nói nó trơn như đọc thuộc lòng. Má không hỏi lại. Má chỉ nói: "Ở nhà người ta thì rửa chén cho người ta nghe chưa."
Sáng mùng một tháng Năm, ngày nghỉ lễ, cô đi hai chuyến xe buýt về nhà K, quẹt cái thẻ khách cô Huyên ký, đi thẳng xuống cái chòi tôn.
Ông Tư đang tưới cây sứ. Cô đứng cạnh ông, nói nhỏ: con đưa rồi ông. Đưa cho thầy Thạc. Ở xưởng. Thầy ngồi sụp xuống cái ghế đẩu. Thầy hỏi địa chỉ nhà con. Thầy nói thầy phải đi Đắk Lắk.
Ông Tư nghe hết, tay vẫn cầm vòi nước, tưới vòng quanh gốc. Ông không hỏi thầy nói gì, khóc hay không, giận hay không. Tưới xong vòng thứ ba, ông khóa vòi lại, cuộn khúc ống nhựa lên tay, treo vào cái móc ở chân cầu thang.
– Ừ. – Ông nói. – Vậy là xong phần tui.
Rồi ông đi vào chòi, mở radio. Một bài vọng cổ cũ. Lần này ông không vặn lớn hết cỡ. Ông vặn vừa đủ nghe, như mọi buổi sáng bình thường khác.
Cô đứng dưới gốc cây sứ thêm một lúc. Trên lầu hai dãy bắc, cửa sổ phòng hai mười bốn mở. Cô thấy cái đầu tóc ngắn cũn của Nghi ló ra, thấy cô, vẫy tay lia lịa, la lớn một câu tiếng Hải Phòng mà cô nghe không rõ, chỉ nghe được chữ "mày" với chữ "lên đây".
Cô không lên. Cô vẫy tay lại, rồi đi ra cổng.
Cô làm mô hình.
Đội làm lại từ đầu, ở xưởng, mỗi tối từ sáu giờ tới mười giờ. Chú Lợi ở lại. Chú nói mổ mắt xong chú ngủ sớm không được, ở nhà một mình thì buồn, ở xưởng có tụi nhỏ thì vui. Chú ngồi ở bàn đầu, ráp một cái mô hình đình làng bằng gỗ balsa cho ai đó đặt, thỉnh thoảng đi ngang xem tụi nó làm, nói một câu. "Mái đó dốc quá, mưa ở Sài Gòn không cần dốc cỡ đó." "Cái cầu thang thép phải có chiếu nghỉ, không thì người ta chạy xuống té."
Bản thiết kế đã đi xa hơn cái tờ A3 có bốn chữ "NHÀ K CÓ BẾP" của Toản.
Ở đầu hồi phía tây mỗi tầng của dãy bắc, hai phòng cuối gộp lại thành một cái bếp chung. Một bức tường chống cháy ngăn với phòng ở. Cửa sổ lớn mở ra hai phía cho thoáng khói. Bốn bếp điện từ, hai bồn rửa, một cái bàn dài cho mười hai người ngồi ăn. Một tủ lạnh chung chia ngăn theo phòng, ngăn nào ghi số phòng đó. Một bình chữa cháy và một tấm chăn chống cháy treo ở cửa. Một cái cầu dao riêng. Toản tính tải điện cho từng bếp, vẽ một trục điện mới chạy nổi trong máng thép dọc hành lang. Mỗi phòng một cầu dao nhỏ, cái ổ nào quá tải thì cầu dao tự ngắt chứ không để dây nóng lên.
– Cái này là cái mà nhà K thiếu từ năm chín sáu. – Toản nói, gõ ngón tay lên bản vẽ điện. – Không phải thiếu ổ cắm. Thiếu cái cầu dao biết tự cúp.
Ở đầu dãy nam, Hy đặt cái cầu thang thép ngoài nhà, giờ đã có hai chiếu nghỉ theo lời chú Lợi, sơn màu xanh ngọc giống màu cửa. Ở mỗi tầng, cậu nối hành lang dãy bắc với hành lang dãy nam bằng một cái cầu nhỏ ngang qua đầu chữ U, để người ở dãy bắc chạy được sang cầu thang thép mà không phải xuống sân.
Ở chiếu nghỉ cầu thang bắc, giữa lầu một và lầu hai, Quyến đặt một cái mái hắt nhỏ bằng bê tông phía ngoài cái lỗ thông gió hình hoa thị, để mưa gió tây không hắt vào được nữa. Cô ghi chú: "Giữ nguyên bức tường. Giữ lớp vôi đầu tiên. Che kính phần có hình vẽ."
Diễm Quỳnh viết lại toàn bộ bản thuyết minh. Bạn ấy thêm một trang mới, đặt ngay sau trang số liệu. Trang đó chỉ có một tấm ảnh: cái ổ điện cháy đen dưới giường Quyến, chụp sáng thứ Bảy mười một tháng Tư. Bên dưới, một dòng chữ: "Ổ số 3, phòng K214. Được ghi nhận cháy sém, đang sử dụng, ngày 18/3/2026. Gây cháy ngày 11/4/2026."
– Bạn có muốn mình bỏ trang này không? – Diễm Quỳnh hỏi Quyến.
– Không. – Quyến nói. – Giữ.
Sơn ông Hớn cho, hai mươi lon, đội dùng chưa tới một phần mười. Mỗi tối Hy mở mấy lon, đọc mã, Quyến gọi tên màu, Hy dán băng keo lên mấy cái hũ nhựa nhỏ đựng sơn đã chia. Tường dãy bắc màu kem vàng, cái màu như răng người hút thuốc lâu năm. Cửa xanh ngọc. Sàn hành lang gạch bông đỏ nâu, Quyến vẽ từng ô bông thị bằng cây cọ nhỏ nhất, mỗi ô to bằng hạt gạo. Cái bếp chung, đội cãi nhau hai buổi, rồi chọn màu cam đất, cái màu đất đỏ bazan trên rẫy nhà Quyến, để nó nổi lên giữa dãy nhà màu kem.
– Cam đất thì tui thấy giống màu nâu. – Hy nói. – Mà tui biết nó là cam. Vậy được rồi.
Tối thứ Tư, mùng sáu tháng Năm, Toản đi ca đêm, Diễm Quỳnh về sớm vì ba bạn ấy có khách. Chú Lợi đi ra ngoài mua bánh mì, nói mười lăm phút chú về. Trong xưởng chỉ còn Quyến với Hy, và cái mô hình gần xong trên tấm ván ép.
Còn lại cái cây sứ.
Lần này Quyến làm nó bằng dây đồng mảnh, xoắn từng nhánh, mỗi nhánh chẻ ra như những ngón tay xòe. Cô làm ba ngày mới xong cái thân. Tối nay cô làm hoa. Mỗi bông hoa là một mẩu giấy trắng cắt năm cánh, nhỏ bằng hạt tấm, chấm một chút vàng ở giữa. Cô gắn từng bông lên đầu cành bằng mũi kim.
Hy ngồi đối diện, cầm hũ sơn xanh, sơn những chiếc lá còn sót.
– Mùa này cây sứ ít lá. – Quyến nói. – Rụng gần hết. Ông sơn chừng hai chục lá thôi, ở mấy cành thấp.
– Lá màu gì?
– Xanh. Xanh đậm. Mặt dưới nhạt hơn.
– Hoa trắng.
– Ừ. Hoa trắng. Nhụy vàng.
Hy đặt hũ sơn xuống. Cậu không sơn nữa. Cậu ngồi nhìn cô gắn bông hoa thứ ba mươi mấy lên cành.
– Cái câu hồi trên cầu. – Cậu nói. – Cái câu bị anh Toàn thổi còi cắt ngang.
Quyến dừng tay. Mũi kim trên tay cô còn kẹp một bông hoa giấy.
– Tui nói là cái hình cô gái tóc bay của bà đẹp. – Hy nói. – Đó là tui nói xạo. Cái hình đó đẹp thiệt, mà tui không định nói câu đó.
– Ông định nói câu gì?
Hy không trả lời ngay. Cậu đẩy gọng kính lên. Ngoài cửa xưởng, ngoài cái khoảng sân xi măng, có tiếng xe máy chạy ngang, rồi im.
– Tui không thấy màu đỏ. – Cậu nói. – Tui không thấy màu xanh lá. Tui không thấy hoàng hôn đẹp. Tui sống mười chín năm mà tui không biết cái bông giấy sau nhà anh Ngạn màu gì. Rồi bà tới. Bà nói nó màu hồng cánh sen. Bà nói mặt sông màu cam. Bà nói cái cây vú sữa có lá lật lên màu vàng đồng như ai rải tiền. – Cậu dừng lại. – Tui không thấy được mấy cái màu đó. Mà từ hồi có bà, tui thấy cái gì cũng có màu. Tui không biết nói sao cho đúng. Tui chỉ biết là tui thương bà.
Quyến ngồi im.
Cô nhìn bông hoa giấy nhỏ xíu trên mũi kim. Cô nhìn cái cây sứ bằng dây đồng, ba mươi mấy bông hoa trắng đã gắn, còn chừng hai chục bông chưa gắn. Cô nhìn Hy, ngồi đối diện, cái kính gọng nhựa đen, cái tóc lòa xòa xuống trán, hai tay đặt trên mép bàn, mấy ngón tay dính sơn xanh.
Cô đặt mũi kim xuống.
– Tui đo giùm ông. – Cô nói. – Ông gọi màu giùm tui. Huề. Ông nhớ câu đó không?
– Nhớ. Bà nói ngược. Bà nói ông đo giùm tui, tui gọi màu giùm ông.
– Ừ. – Quyến nói. – Tui nói ngược. Mà tui nghĩ là đúng.
Cô đưa tay ra qua mặt bàn, qua cái mô hình nhà K, qua cái cây sứ bằng dây đồng. Hy nhìn bàn tay cô một lúc, như nhìn một con số đo mà cậu chưa tin. Rồi cậu đưa tay ra, nắm lấy.
Bàn tay cậu dính sơn xanh. Bàn tay cô dính keo với mạt giấy. Hai bàn tay nắm lấy nhau ở giữa mặt bàn gỗ đầy vết dao rọc, ngay phía trên cái sân chữ U của nhà K thu nhỏ một trăm lần.
– Tui cũng vậy. – Cô nói.
Hai đứa ngồi như vậy cho tới khi nghe tiếng chân chú Lợi lẹp xẹp ngoài sân, tiếng túi nilon sột soạt, tiếng chú ho khan một tiếng to hơn cần thiết ở ngay ngoài cửa xưởng. Rồi chú bước vào, đặt bịch bánh mì lên bàn đầu, nhìn lên trần nhà, nói: "Hôm nay cái quạt này kêu lớn ghê."
Tối thứ Sáu, mùng tám tháng Năm, mô hình xong. Cây sứ có năm mươi hai bông hoa. Cả đội đứng quanh tấm ván ép, chụp hình. Toản gửi tấm hình vào nhóm chat của đội kèm một dòng: "Tau khóc rồi bây."
Chín giờ rưỡi, Quyến đang dọn mạt xốp dưới gầm bàn thì điện thoại rung.
"Má."
Má chưa bao giờ gọi vào tối thứ Sáu. Má gọi vào tối Chủ nhật, sau khi đi chợ về. Cô bấm nghe, tim đập mạnh.
– Má.
– Quyến. – Giọng má nhỏ, như má đang đứng nép ở góc nhà nào đó, sợ có người nghe. Phía sau có tiếng dế kêu, tiếng gió. – Mầy biết chuyện gì không?
– Chuyện gì má?
– Có ông thầy dạy mầy tới. Từ trưa. Ổng đi xe ôm từ thị trấn vô, hỏi đường tới mấy nhà. Ổng mang theo một cái hộp bánh bằng sắt. – Má ngừng một chút. – Ổng ngồi trước hiên với ba mầy từ chiều tới giờ, chưa ai nói câu nào.
— Hết chương 31 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe