Chương 22: Giao thừa và cái bếp điện
– Quyến, đốt giùm má cây đèn cầy. Tay má dính bột.
Má đứng trong bếp, hai tay trắng bột năng, đang vo những viên bánh ít cuối cùng. Chiều ba mươi, à không, chiều hai mươi chín, vì năm nay tháng Chạp thiếu, không có ngày ba mươi. Cả nhà bận từ sáng. Nồi thịt kho trứng đã sôi lăn tăn trên bếp củi. Mâm ngũ quả cu Bin bày ba lần mới vừa ý má. Ba quét sân, quét hết khoảng đất trước hiên, quét luôn cả chỗ dưới gốc cây sứ, nơi sáng hôm qua còn sót một vệt cong nhỏ.
Quyến lấy hộp quẹt trên kệ, đi lên nhà trên, đốt hai cây đèn cầy đỏ trên bàn thờ. Bàn thờ là một tấm ván gỗ kê cao sát vách, trên đó có tấm hình ông nội đóng khung, một bát nhang, một bình bông vạn thọ. Ông nội mất năm cô học lớp Sáu. Trong hình ông mặc áo sơ mi trắng, tóc bạc trắng, ngồi trước cái hiên này, cười không thấy răng.
Ba đứng ở cửa nhà trên, nhìn cô đốt đèn. Ba đứng xa, cách cái bàn thờ gần hết căn nhà.
Cô chưa từng thấy ba đốt nhang. Không phải Tết này. Không phải bất cứ Tết nào. Năm nào cũng vậy: má đốt, ba đứng sau lưng má, chắp tay. Hồi nhỏ cô nghĩ đó là chuyện của đàn bà. Năm ngoái cô thấy nhà ông Y Sơn bên kia đồi, ông đốt nhang, vợ ông đứng sau. Cô cũng không nghĩ gì.
Bây giờ thì cô nghĩ.
Đêm giao thừa ở rẫy không có pháo hoa. Chỉ có tiếng nhạc Tết từ cái loa của nhà ai đó dưới chân đồi vọng lên, và tiếng chó sủa. Cả nhà ngồi ngoài hiên, quanh cái bàn nhỏ có dĩa mứt gừng má làm, ấm trà, hộp hạt dưa. Cu Bin cắn hạt dưa rôm rốp, kể chuyện lớp Tám có đứa con gái mới chuyển từ thành phố lên, nói chuyện như ca sĩ. Má cười. Ba ngồi trên cái ghế đẩu, nhìn ra sân tối.
Mười hai giờ kém năm, má lên nhà trên cúng giao thừa. Má đốt ba cây nhang, đứng khấn rất lâu, giọng thì thầm, cô nghe được tên ông nội, tên bà nội, rồi tên cô với tên cu Bin. Ba đứng sau lưng má, chắp tay. Quyến đứng sau lưng ba.
Má cắm nhang xong, quay ra. Quyến bước tới trước bàn thờ, lấy trong túi áo khoác ra cái phong bì giấy xi măng.
– Ba.
Ba nhìn cái phong bì. Ánh đèn cầy đỏ hắt lên mặt giấy, lên con tem chưa đóng dấu, lên dòng chữ xanh "Phan Văn Tín".
– Thầy dạy con nhờ con đưa ba. – Cô nói. – Thầy Tạ Đăng Thạc.
Má đứng sững ở cửa. Cu Bin ló đầu vào, nhìn thấy mặt ba, rút đầu ra.
Ba không đưa tay ra cầm. Ba nhìn cái phong bì trên tay cô như nhìn một con rắn nằm trên lối đi. Một lúc lâu. Lâu tới mức một cây nhang trên bát nhang tàn một khúc, tro rơi xuống mặt bàn thờ.
Rồi ba cầm lấy nó. Ba lật ra mặt sau, nhìn cái dòng "Tháng Ba năm 2002", nhìn cái mép dán còn nguyên. Ngón tay cái của ba miết lên mép dán, một lần, như thử xem nó có dính chắc không. Rồi ba bước tới trước bàn thờ, dựng cái phong bì vào chân tấm hình ông nội, ngay sau bát nhang.
Ba không mở. Ba không nói gì. Ba đi ra hiên, ngồi xuống cái ghế đẩu, nhìn ra sân tối.
Má đi theo ra, đặt tay lên vai ba. Ba không động đậy.
Cái loa dưới chân đồi chuyển sang một bài hát mừng xuân, tiếng trẻ con hát. Có tiếng ai đó la lên "Chúc mừng năm mới!" ở rất xa.
Đêm đó Quyến nằm trên cái chõng tre ở nhà trên, chỗ má trải chiếu cho cô từ ngày về, cách bàn thờ chừng ba bước. Cô thức dậy lúc gần ba giờ sáng vì lạnh. Hai cây đèn cầy đã cháy gần hết, ánh lửa chỉ còn là hai cái chấm vàng run run. Bát nhang đã tàn.
Có người đứng trước bàn thờ.
Cô nằm im, mắt hé. Ba đứng đó, áo khoác len cũ, hai tay buông thõng. Ba đứng cách bàn thờ một sải tay, gần hơn mọi khi, nhưng không bước tới nữa. Ba nhìn cái phong bì dựng sau bát nhang. Hai cái chấm lửa đèn cầy in lên mắt ba.
Một cây đèn cầy lụn tới chân, ngọn lửa liếm vào cái đế, lóe lên một cái. Ba lùi lại một bước. Rất nhanh, như người ta lùi khi có con chó nhảy xổ ra. Rồi ba đứng yên chỗ mới, xa hơn.
Ba đứng như vậy cho tới khi cây đèn cầy thứ nhất tắt hẳn. Cây thứ hai còn cháy. Ba không thổi nó, cũng không đốt thêm cây mới. Ba quay vào buồng.
Sáng ra, cái phong bì vẫn nằm đó, mép dán còn nguyên.
Sáng mùng một, ông Y Sơn qua xông đất. Năm nào cũng là ông, vì ông tuổi Thìn, má nói tuổi tốt. Ông mặc cái áo thổ cẩm đỏ đen, cầm theo một chai rượu cần nhỏ và một bịch kẹo cho cu Bin. Ông ngồi uống trà với ba ngoài hiên, nói chuyện năm nay cà phê được giá, nói chuyện cái giếng khoan nhà ông bị cạn. Ba nói ít, gật đầu nhiều. Ông Y Sơn nhìn Quyến, cười lộ mấy cái răng sún:
– Con nhỏ kiến trúc. Năm sau vẽ cho ông cái nhà nghe. Nhà sàn mà có toilet trong nhà, cho ông già khỏi đi ra ngoài ban đêm.
– Dạ. – Quyến cười. – Mà ông phải nói con biết cái nhà ông dài mấy mét.
– Mấy mét thì hỏi ba con. Ba con đo cho cả buôn rồi.
Ông Y Sơn về lúc gần trưa. Má với cu Bin đi chúc Tết nhà bác Hai ở đầu xóm. Má gọi Quyến đi, Quyến nói con ở nhà dọn mâm. Má nhìn cô, nhìn ba, rồi không nói gì, dắt xe đi.
Còn lại hai cha con ngoài hiên.
Ba ngồi trên cái ghế đẩu, lấy một cái lon sữa bò đựng hạt cà phê lựa dở hôm trước ra, ngồi nhặt. Mùng một mà ba vẫn ngồi lựa cà phê. Quyến ngồi xuống bậc hiên, cách ba hai bước chân.
– Ba. Con coi hồ sơ rồi.
Tay ba dừng lại trên mặt nong.
– Cô Huyên quản lý nhà K cho con coi. Cuốn sổ năm chín tám, có hình ba. Cuốn sổ năm hai ngàn mốt có dòng chữ đỏ. Có cái biên bản. Có cái tờ ba viết. – Cô nói một hơi, sợ dừng lại thì không nói tiếp được. – Con thấy con én ba vẽ cạnh chữ ký.
Ba không quay sang. Ba nhìn xuống cái nong, nhìn những hạt cà phê nâu xám.
– Ông bảo vệ bị bỏng tay trái. – Quyến nói. – Ổng còn ở nhà K, ổng còn tưới cây sứ ba trồng. Mỗi sáng.
Ba vẫn không nói gì. Cái cổ tay ba run, rất nhẹ, làm mấy hạt cà phê trên lòng bàn tay rơi lại xuống nong.
– Con muốn ba nói cho con biết. – Cô nói. – Chỉ vậy thôi. Con không muốn nghe cô Huyên nói, ông bảo vệ nói, thầy Thạc nói. Con muốn nghe ba nói.
Ba đặt cái lon sữa bò xuống đất.
Ba quay sang nhìn cô. Lần đầu tiên từ khi cô về, ba nhìn thẳng vào mặt cô, lâu. Cái nhìn đó cô chưa từng thấy. Không phải cái nhìn của ba khi cô làm bể chén, khi cô đi chơi về trễ, khi cô cãi. Nó giống cái nhìn của người ta nhìn một cái nhà mình đã từng ở, giờ đứng ngoài hàng rào mà không vào được.
– Ba đốt. – Ba nói. Giọng Quảng Ngãi nặng, chậm, từng chữ một, như ba đặt từng viên gạch. – Ba nấu mì bằng bếp điện. Ba đi ra ngoài, ba quên. Người ta bỏng là tại ba. Thằng Thạc mất hết đồ án là tại ba. Cái biên bản ghi đúng. Cái tờ đó ba viết. Ba ký.
Quyến nhìn ba.
– Rứa đó. – Ba nói. – Mầy biết rồi đó. Giờ mầy đi học gì thì học. Mầy muốn học kiến trúc thì học. Mà mầy đừng học cái nghề làm ba nhục. Mầy đừng đi về cái chỗ đó mà để người ta chỉ mặt mầy nói: con của thằng đốt nhà.
– Không ai chỉ mặt con hết ba.
– Rồi sẽ có.
– Không có! – Cô nghe giọng mình lớn lên, cái giọng Quảng của ông bà nội tự nhiên trồi lên trong miệng cô. – Ông bảo vệ không chỉ mặt con. Cô Huyên không chỉ mặt con. Thầy Thạc nhờ người nhận con vô xưởng làm, ba biết không? Thầy giữ cái thư đó hai mươi bốn năm. Không ai nhục hết. Có mình ba nhục!
Ba im.
– Ba nói dối con mười tám năm. – Cô nói. Nước mắt cô chảy ra lúc nào cô không biết. – Ba nói nhà mình không ai học đại học. Ba nói con én dễ vẽ. Ba nói kiến trúc là nghề nhà giàu. Ba nói con học sư phạm. Ba nhắn tin cho con lúc nửa đêm, mà ba không hỏi con tới chưa, con ăn gì chưa. Con đi đo cái cầu thang ba đi lên đi xuống ba năm, con đếm từng bậc, mà con không biết ba đã từng đếm nó.
Ba đứng dậy.
Ba đứng dậy chậm, một tay chống vào đầu gối, một tay vịn cột hiên. Cái lưng còng của ba không thẳng lên được hết. Ba đứng đó một lúc, quay lưng về phía cô, nhìn ra cây sứ.
– Cái cầu thang đó mười một bậc một đoạn. – Ba nói. – Bậc thứ bảy đoạn thứ ba bị mẻ góc. Hồi năm chín chín thằng Thạc khiêng cái bàn vẽ lên, làm rớt.
Rồi ba đi xuống bậc hiên, đi qua sân, lấy cái nón lá treo trên cây cột chuồng gà, đội lên đầu. Ba đi ra phía rẫy.
– Ba! Mùng một mà ba!
Ba không quay lại. Cái lưng còng của ba đi xuống con dốc đất đỏ, giữa hai hàng cà phê vừa tưới nước, đất còn sẫm màu ướt. Rồi khuất.
Quyến ngồi trên bậc hiên cho tới khi má với cu Bin về. Má dựng xe, nhìn cái ghế đẩu trống, nhìn cái lon sữa bò lăn lóc trên nền xi măng, nhìn cô.
– Ba mầy đâu?
– Ra rẫy.
– Mùng một? – Má đứng sững. – Mầy nói cái gì với ba mầy?
– Con hỏi ba chuyện nhà K. Chuyện cái phòng cháy. – Quyến lau mặt bằng tay áo. – Ba nói ba đốt. Ba nói ba nấu mì bằng bếp điện rồi đi ra ngoài quên rút.
Má không nói gì. Má kêu cu Bin vô nhà, đóng cửa buồng lại. Rồi má ngồi xuống bậc hiên cạnh cô, cởi cái khăn quấn đầu ra, cầm trên tay, vò vò. Má nhìn ra con dốc đất đỏ chỗ ba đã khuất.
– Má biết ba mầy từng học ở dưới đó. – Má nói. – Ba mầy nói với má từ hồi cưới. Nói ba mầy bị đuổi vì làm cháy phòng. Nói đúng y vậy, bếp điện.
– Rồi má tin?
Má im một lúc lâu. Cái khăn trên tay má vò lại thành một nắm nhỏ.
– Mầy có thấy ba mầy đứng gần cái bếp bao giờ không? – Má hỏi, giọng rất nhỏ, như sợ cây sứ nghe được.
Quyến lắc đầu.
– Má cũng không. Hai mươi năm. – Má nói. – Ba mầy chưa từng đứng gần cái bếp nào hết.
— Hết chương 22 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe