Chương 15: Một sai số chân thật
Hai tờ giấy A1 cuộn tròn trong ống nhựa đen, đeo chéo sau lưng như một cây súng. Quyến ôm ống giấy trên xe buýt suốt năm mươi phút sáng thứ Sáu, không dám ngồi, sợ người ta ngồi đè lên.
Đêm qua cô vẽ tới ba giờ sáng.
Cái dáng thầy Thạc cúi đầu dưới ánh đèn đường, bàn tay có sẹo của ông Tư nắm cổ tay thầy, hai cái miệng im bặt khi thấy cô. Cô đã đứng đó mấy giây, rồi đi ngang qua họ, chào một tiếng "con chào ông, em chào thầy", và đi thẳng vào trong, lên cầu thang bắc, không quay lại. Không ai gọi cô. Lúc cô đo xong mấy bậc thang và ngồi ở chiếu nghỉ, cô nghe tiếng xe máy của ai đó nổ máy ngoài cổng rồi xa dần.
Rồi cô về phòng, trải giấy ra hành lang, vẽ.
Tờ thứ nhất là cái cầu thang. Mặt bằng bốn đoạn thang và hai chiếu nghỉ, tỉ lệ một phần hai mươi. Mặt cắt dọc theo đường đi lên, từng bậc một, có ghi chiều cao, chiều sâu, ký hiệu mòn, vỡ, sửa. Bốn mươi bốn bậc, bốn mươi bốn con số chiều cao, không con số nào giống con số nào. Ở cạnh mặt cắt, cô vẽ một biểu đồ nhỏ, cột đứng là chiều cao bậc, cột ngang là thứ tự bậc. Ai nhìn vào cũng thấy những bậc ở giữa đoạn thang thấp hơn hai đầu, chỗ người ta bước nhiều nhất, mòn nhiều nhất.
Tờ thứ hai là bức tường chiếu nghỉ. Mặt đứng có cái lỗ thông gió hình hoa thị, mũi tên chỉ hướng nước mưa chảy vào khi gió hướng Tây. Chi tiết bốn lớp vôi, cắt ngang, phóng to gấp năm lần, mỗi lớp một màu nhạt cô tô bằng chì màu, ghi rõ bề dày. Và ở góc dưới bức tường, đúng vị trí, đúng kích thước, đúng cái đuôi lệch phải, là con én. Cô vẽ nó bằng bút kim, một nét cong, một nét chẻ, rồi ghi bên cạnh, nhỏ: "Hình vẽ mực tàu trên lớp vôi đầu tiên. Kèm chữ: K207 · 12.8.2000. Hiện trạng: lộ do mưa, đã che nilon. Đề xuất: giữ nguyên."
Ở mép dưới tờ thứ hai, cô dán thêm một tờ A3, ghi chữ "Phụ lục: phòng K207". Sơ đồ mặt bằng căn phòng, có đường ranh giữa gạch bông cũ và gạch ceramic mới, có khung cửa sổ sắt vuông, có vệt đen trên trần, kích thước bảy mươi lăm nhân sáu mươi. Và một dòng ghi chú cô đã viết rồi xóa, rồi viết lại: "Vệt đen trên trần: theo bảo vệ là do dột."
Cô nộp bài ở phòng giáo vụ khoa lúc chín giờ. Thầy Thạc không có ở đó. Cô ký tên vào sổ nộp bài, nhìn hai tờ giấy cuộn của mình nằm lẫn giữa bốn mươi mốt cuộn giấy khác trong cái thùng các tông, rồi đi xuống xưởng.
Tuần sau đó là tuần hai mươi tháng Mười Một.
Sáng thứ Năm, lớp góp tiền mua một bó hoa ly trắng to bằng cái thúng, cử Diễm Quỳnh lên tặng thầy Thạc. Thầy nhận bó hoa, nói cảm ơn, đặt nó lên cái ghế gỗ cạnh cửa sổ, cái ghế mà Quyến vẽ hồi buổi học đầu. Rồi thầy mở cái thùng các tông, rút ra từng cuộn giấy.
Lần này thầy không đọc tên từng người. Thầy treo từng bài lên mấy sợi dây căng ngang phòng studio, kẹp bằng kẹp gỗ, như người ta phơi quần áo. Bốn mươi hai bài, kín cả căn phòng. Cái cổng làng, cái nhà thờ, cái chợ cũ, cái miếu, cái cầu sắt, cái giếng nước, cái nhà ống. Rồi thầy cầm một cây bút chỉ bảng, đi giữa những dãy giấy, nói.
Thầy nói về cái nhà thờ của Diễm Quỳnh: "Mặt cắt tháp chuông tốt. Em đã leo lên. Tôi thấy em leo lên qua cách em vẽ cái cầu thang xoắn." Diễm Quỳnh ngồi thẳng lưng, môi mím lại, nhưng mắt sáng lên.
Thầy nói về cái cổng con công của Hy: "Mối hàn chi tiết rõ. Đo đúng." Rồi thầy dừng lại trước phần tô màu hiện trạng. Hy đã tô cái cổng bằng màu nước để thể hiện những chỗ rỉ sét, những chỗ sơn bong, những chỗ rêu bám ở chân cổng. Thầy nhìn một mảng ở chân cổng, nơi mấy cái nan sắt cắm xuống nền xi măng.
– Chỗ này em tô rỉ sét màu xanh. – Thầy nói. – Còn chỗ rêu ở phía trên em lại tô nâu đỏ. Tôi đứng ở cổng nhà xe nhà K mấy chục lần rồi, tôi nhớ là ngược lại.
Hy ngồi im. Quyến ngồi bên cạnh cậu, thấy hai vành tai cậu đỏ lên. Cô nhớ lại tuần trước. Tối thứ Tư, Hy ngồi tô bài ở hành lang dãy nam, một mình, còn cô ở xưởng tới tám giờ rồi về vẽ bài của mình tới sáng. Cậu không gọi cô gọi tên màu. Có lẽ cậu nghĩ cô bận. Có lẽ cậu nghĩ mình làm được.
– Dạ… – Hy nói. – Em cố ý. Em muốn thể hiện…
– Cố ý thì ghi chú vào. Không ghi chú thì người đọc bản vẽ nghĩ em nhìn sai. – Thầy Thạc nói, rồi đi tiếp.
Ở bàn trên, Diễm Quỳnh quay xuống nhìn Hy. Rồi Diễm Quỳnh nhìn xuống cái hộp màu nước để trên bàn Hy. Hộp màu loại học sinh, hai mươi bốn ô, ô nào cũng có một mẩu băng keo giấy dán ở mép, ghi tên màu bằng bút lông dầu, chữ in. Diễm Quỳnh nhìn mấy mẩu băng keo đó rất lâu, hai hàng lông mày nhíu lại, như đang giải một bài toán. Rồi bạn ấy quay lên, không nói gì.
Quyến thấy hết. Cô không biết Hy có thấy không.
Bài của Quyến treo ở sợi dây cuối cùng, cạnh cửa sổ, ngay trên cái ghế gỗ có bó hoa ly. Thầy Thạc đứng trước nó lâu nhất.
Cả lớp bắt đầu quay về phía đó. Có mấy đứa đứng dậy, đi lại gần. Quyến ngồi yên chỗ, hai tay đặt trên đùi.
– Em Quyến. – Thầy gọi.
Cô đứng dậy.
– Cái biểu đồ chiều cao bậc thang này. Ai dạy em vẽ?
– Dạ, không ai ạ. Em đo xong, em thấy mấy bậc ở giữa thấp hơn, em muốn cho người xem thấy nó thấp hơn như thế nào. Em nghĩ vẽ ra thì dễ thấy hơn đọc số.
– Ừ. – Thầy quay sang lớp. – Các anh chị nhìn đây. Bốn mươi bốn bậc thang. Chỗ mòn nhất thấp hơn chỗ ít mòn nhất một phân rưỡi. Một phân rưỡi đó là ba chục năm bàn chân của sinh viên đi lên đi xuống. Người ta xây cái cầu thang này năm chín sáu với bậc cao đều nhau. Bây giờ nó không còn đều nữa. Cái cầu thang này đã ghi lại những người đã đi qua nó. – Thầy dừng lại. – Đó là thứ mà một bản vẽ ghi phải bắt được.
Rồi thầy chỉ cây bút vào con én.
– Còn cái này. Con chim này là gì?
Cả lớp nhìn con én. Nhìn hai nét bút kim, nhìn dòng chữ "K207 · 12.8.2000". Diễm Quỳnh đứng gần nhất, cúi xuống đọc phần ghi chú.
Quyến nhìn thầy Thạc. Thầy không nhìn con én. Thầy nhìn cô.
– Dạ. – Cô nói. – Đó là dấu của người cũ.
– Người cũ nào?
– Dạ, em không biết. Một người ở phòng hai lẻ bảy, năm hai ngàn.
Phòng studio im lặng. Thầy Thạc đứng đó, cây bút chỉ bảng trên tay, nhìn cô. Cô thấy cái quai hàm thầy siết lại, rồi giãn ra.
– Em ghi "đề xuất: giữ nguyên". – Thầy nói. – Tại sao?
– Dạ, vì… – Quyến ngập ngừng. Rồi cô nói thật: – Vì nếu người ta quét vôi lại, thì không ai biết là đã có người ở đây.
Thầy Thạc gật đầu một cái. Rồi thầy cầm tờ A3 phụ lục dán ở mép dưới, lật lên, nhìn sơ đồ phòng hai lẻ bảy. Thầy nhìn đường ranh gạch, nhìn khung cửa sổ sắt vuông, nhìn vệt đen trên trần, nhìn dòng ghi chú "theo bảo vệ là do dột". Thầy nhìn nó lâu tới mức mấy đứa đứng gần bắt đầu xì xào.
– Phần phụ lục. – Thầy nói, giọng đều đều. – Em ghi "theo bảo vệ là do dột". Em có tin không?
– Dạ… không ạ.
– Tại sao?
– Vì dột thì vết màu vàng. Vết này màu đen.
– Vậy sao em vẫn ghi?
– Vì đó là cái người ta nói. – Quyến nói. – Em ghi cái em thấy, và em ghi cái người ta nói. Còn em tin hay không thì… không phải phần của bản vẽ.
Thầy Thạc nhìn cô thêm một lúc. Rồi thầy thả tờ phụ lục xuống, để nó rủ lại như cũ.
– Mười. – Thầy nói. – Không. Chín rưỡi. Nửa điểm trừ vì chữ số ở mặt cắt viết nghiêng không đều. – Thầy quay lên bục. – Hết giờ. Thứ Hai tuần sau bài mới.
Lớp vỡ ra. Mấy đứa xúm lại quanh bài của Quyến, chụp hình, hỏi con én là gì, hỏi cô đo bốn lớp vôi bằng cách nào. Diễm Quỳnh không hỏi gì. Bạn ấy chỉ nhìn con én thêm một lần, rồi quay về chỗ, xếp mấy cây bút kim vào hộp, từng cây một.
Quyến đi ra hành lang. Hy đi theo.
– Chín rưỡi. – Hy nói. – Cao nhất lớp. Thầy Thạc chưa bao giờ cho ai trên chín.
– Ông thì sao? Ông bị trừ mấy?
– Tám. Trừ cái rỉ sét. – Hy nhún vai. – Đáng. Tui tô một mình. Tui tưởng tui nhớ được. Băng keo trên hộp màu học sinh nhỏ quá, tui đọc lộn ô.
– Sao ông không gọi tui?
– Bà bận. Bà làm xưởng tới tám giờ, về vẽ tới sáng. Tui thấy đèn hành lang lầu hai dãy bắc sáng tới ba giờ. – Hy nói. – Mà thôi. Tui có cái này cho bà.
Cậu kéo cái ba lô ra trước ngực, lôi ra một cái túi vải màu xám, dẹp, chữ nhật. Bên trong là một cái laptop. Cũ. Vỏ nhựa đen trầy xước, một góc bị móp, bàn phím mòn bóng ở mấy phím chữ hay gõ.
– Cái máy hồi cấp ba của tui. Chạy được phần mềm dựng hình bản cũ, chậm, mà chạy. Pin chai, phải cắm sạc. – Hy nói. – Hồi tui bỏ nhà đi, A Má tui lén nhét tiền vô ba lô cho tui mua máy mới. Cái này để không cũng phí. Bà xài đi.
Quyến nhìn cái túi vải trên tay cậu. Cô không cầm.
– Tui không lấy được.
– Không phải cho. Cho mượn. Tới khi nào bà mua được máy thì trả. – Hy dúi cái túi vào tay cô. – Bà cho Nghi mượn hai triệu mà, tui nghe Toản kể. Giờ tui cho bà mượn cái máy. Huề.
– Cái đó đâu có huề…
– Huề. – Hy nói, và cậu quay lưng đi xuống cầu thang trước khi cô kịp nói gì thêm.
Tối đó, ở phòng hai mười bốn, Quyến mở cái túi vải. Cái laptop nằm bên trong, cùng với cục sạc quấn dây gọn gàng, và một con chuột không dây. Cô lấy cái máy ra, mở nắp. Màn hình đen. Cô cắm sạc, bấm nút nguồn. Cái máy kêu rè rè một hồi, rồi màn hình sáng lên.
Lúc cô định cất cái túi vải đi, cô thấy trong ngăn nhỏ phía trước có một tờ giấy gấp làm tư. Giấy học trò, kẻ ô li, xé từ một cuốn tập.
Cô mở ra. Nét chữ in nhỏ đều như đánh máy, nét chữ của người viết số trên bản vẽ.
"Mật khẩu máy: con công 1996.
Máy này tui dán băng keo màu trên mấy phím tắt của phần mềm, bà gỡ ra cũng được.
Còn cái này không phải về máy. Màu nào bà cũng gọi tên giùm tui nha. Không phải chỉ màu sơn.
H."
Quyến đọc tờ giấy hai lần. Rồi cô gấp nó lại, gấp đúng theo mấy nếp gấp cũ, và để nó vào trong cái hộp bút gỗ, nằm dưới mấy cây bút kim, ngay bên dưới con én khắc trên nắp.
— Hết chương 15 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe