Chương 4: Nồi cơm trong thùng sơn
Cái thùng sơn nước loại mười tám lít, vỏ nhựa trắng, quai sắt, trên nắp còn dán nửa cái nhãn đã bạc màu. Nó nằm dưới gầm giường chị Mỉn từ ngày Quyến dọn vào, và cô vẫn tưởng trong đó đựng giày dép hay đồ mùa đông.
Tối Chủ nhật, chị Mỉn kéo nó ra giữa lối đi, mở nắp. Bên trong lót một lớp mút xốp cắt khoét vừa khít, và nằm giữa lớp xốp là một cái nồi cơm điện loại nhỏ nhất, cỡ nấu được ba chén gạo, vỏ màu kem đã ngả vàng.
– Đứa nào hỏi thì đây là thùng sơn. – Chị Mỉn nói. – Đứa nào khai ra thì tuần sau ăn mì gói một mình.
Nghi vỗ tay. Sô Phy đứng dậy đóng cửa phòng, cài móc. H'Riêm lấy trong ba lô ra một túi khô cá suối mẹ gửi xuống bằng xe khách, và một hũ ớt xanh giã với muối, mở nắp ra là cay xộc lên mũi. Quyến đổ gạo của má vào cái rá nhựa, đi ra nhà vệ sinh cuối hành lang vo, rồi đi về, hai tay ôm rá giấu trong vạt áo như ôm một con mèo con.
Chị Mỉn cắm nồi cơm vào cái ổ chia điện dưới giường Quyến. Phòng hai mười bốn có bốn ổ điện cho tám giường. Hai ổ ở đầu phòng đã cắm hai cái ổ chia, mỗi ổ chia sáu lỗ, lỗ nào cũng có sạc điện thoại, sạc máy tính, quạt bàn. Ổ thứ ba gần cửa sổ, ngay dưới giường Quyến, mặt nhựa đã ngả màu nâu ở một bên, có một vệt cháy sém nhỏ như vết đầu thuốc lá. Ổ thứ tư thì hư, không ai biết từ năm nào.
– Ổ này nóng lắm chị. – Quyến nói. – Hôm qua em sạc điện thoại, rờ vô thấy ấm.
– Ổ nào ở nhà K cũng nóng. – Chị Mỉn bấm nút nồi cơm. Đèn đỏ bật lên. – Dây điện ở đây đi từ hồi chị chưa sinh ra. Đừng cắm cái gì hơn một ngàn oát là được.
Quyến nhìn cái vệt cháy sém trên mặt ổ điện. Cô không biết một ngàn oát là cỡ nào, nhưng cô nhớ ba ở nhà cứ hễ đấu điện là lấy tay rờ thử đầu dây, rờ xong mới yên tâm đi ngủ. Ba bảo: "Điện nó nóng là nó đang kêu cứu đó."
Cơm sôi. Mùi gạo mới của má bay khắp phòng, át cả mùi nhang muỗi. Chị Mỉn lấy cái khăn ướt chặn lên khe hở dưới cửa.
Năm đứa ngồi bệt xuống nền gạch, quây quanh nồi cơm và một tờ báo cũ trải làm mâm. Khô cá suối nướng bằng cách nào thì không ai hỏi, H'Riêm chỉ cười, nói: "Bí mật." Thật ra chị nướng bằng cái bàn ủi của Nghi, kẹp con khô giữa hai tờ giấy bạc, ủi tới khi giấy bạc kêu xèo. Nghi phát hiện thì đã ăn hết ba con, nên không nói được câu nào.
– Ở Hải Phòng nhà tao có bánh đa cua. – Nghi vừa nhai vừa kể. – Bánh đa đỏ, cua đồng giã lọc, rau muống chẻ, chả lá lốt. Ba mươi nghìn một bát, mà to gấp đôi cái bát cơm sườn ở đây. Bố tao lái xe container, sáng nào đi cảng cũng ăn một bát ở đầu ngõ. Sau này tao giàu, tao mở một quán bánh đa cua ở Sài Gòn, đặt tên là Quán Nghi Giàu.
– Nghe như tên một cái tiệm cầm đồ. – Chị Mỉn nói.
– Thì kệ. Giàu là được.
– Rồi mày giàu bằng cách nào? Kế toán ngồi đếm tiền người khác mà.
– Thì từ từ. – Nghi rút điện thoại ra, lướt một hồi. – Tao đang tìm việc online. Có mấy việc ngồi nhà bấm like cho trang bán hàng, mỗi lượt được mấy nghìn. Đứa bạn cấp ba của tao làm, tháng được ba triệu.
– Bấm like mà được tiền thì chị đã nghỉ đi làm thêm từ năm nhất rồi. – Chị Mỉn nói, không nhìn lên.
Nghi bĩu môi, cất điện thoại.
Sô Phy ăn chậm, ăn rất ít. Bạn ấy gắp một miếng khô, xé nhỏ ra, ăn với nhiều cơm. Lúc mọi người hỏi quê, bạn ấy nói: "Ở gần chùa Âng, trong đó nhiều cây dầu lắm." Hỏi nhà có mấy người, bạn ấy nói: "Có Mế với tui với thằng em." Hỏi ba đâu, bạn ấy không trả lời, chỉ cười, gắp thêm cơm cho Nghi. Không ai hỏi nữa.
– Còn Quyến, sao học kiến trúc? – H'Riêm hỏi.
Quyến nghĩ một lúc.
– Tại hồi nhỏ ba em hay vẽ nhà. Ba em làm thợ hồ. Tối nào ba cũng lấy than vẽ lên vách ván mấy cái nhà ba thấy trên tivi, rồi vẽ thêm chỗ này chỗ kia, nói nếu ba làm thì ba làm vầy. Em ngồi coi. Lớn lên em cũng muốn vẽ nhà. Mà vẽ cái nhà có người ở thiệt.
– Rồi ba cho học không?
– Không. – Quyến nói. – Ba nói nghề nhà giàu.
Không ai nói gì. Chị Mỉn gắp con khô cuối cùng bỏ vào chén Quyến.
Ăn xong, Sô Phy rửa nồi. Chị Mỉn vo thêm hai chén gạo, cắm nồi thứ hai để mai có cơm mang theo đi thực tập. H'Riêm cầm cây đàn ghi ta cũ của chị, khẽ mở cửa, đi ra hành lang.
– Chị ấy ra đâu đấy? – Nghi hỏi.
– Ra sân hát. – Chị Mỉn nói. – Tối Chủ nhật nào nó cũng hát. Mà đứng chỗ tối nhất sân. Năm ngoái có đứa dãy nam rọi đèn điện thoại xuống, nó bỏ đàn đó chạy lên phòng, cả tuần không hát nữa.
Quyến leo lên giường. Từ cửa sổ, cô thấy H'Riêm đi qua sân, tới gốc cây sứ, ngồi xuống cái bệ xi măng bao quanh gốc, khuất hẳn trong bóng tán lá. Bóng đèn tuýp ở hai đầu cầu thang không rọi tới đó. Chỉ thấy lờ mờ một cái dáng nhỏ ôm cây đàn.
Rồi tiếng đàn vang lên. Vài hợp âm dạo đầu. Rồi tiếng hát.
Quyến đã nghe nhiều người hát. Mấy chị trong buôn hát lúc giã gạo. Ông thầy dạy nhạc cấp hai hát quốc ca. Má hát ru cu Bin bằng mấy câu hò Quảng Ngãi. Nhưng tiếng hát dưới gốc cây sứ thì khác. Nó không to. Nó trầm, ấm, đi từ thấp lên cao từ từ như người ta leo một con dốc mà không thở dốc, rồi tới đỉnh thì nó mở ra, rộng ra, lấp đầy lòng chữ U của nhà K. Chị hát một bài bằng tiếng Ê Đê, rồi một bài tiếng Việt về một dòng sông ở Tây Nguyên. Quyến không biết tên bài. Cô chỉ biết cái lưng mình, cái lưng còn mỏi từ quán lẩu, tự nhiên giãn ra.
Dọc hai dãy nhà, những ô cửa sổ sáng đèn lần lượt có người ló đầu ra. Không ai nói. Có ai đó ở dãy nam ngồi gác chân lên lan can. Có tiếng ai đó vỗ tay rồi bị người bên cạnh suỵt.
Tới bài thứ ba, một giọng con trai ở tầng trệt dãy nam hét lên:
– Hát nữa đi chị ơi! Hát cái bài hồi tuần trước á, cái bài có con nai!
Giọng Nghệ An đặc sệt, chữ "nai" nghe như "nài". Tiếng cười rộ lên mấy chỗ. Rồi một giọng khác, quen hơn, giọng của Hy, nói: "Ông im đi Toản, chị đang hát." Tiếng cười lại rộ lên.
H'Riêm dưới gốc cây không đáp. Nhưng chị dạo lại một đoạn đàn, rồi hát bài có con nai.
Quyến muốn xuống sân nghe gần hơn. Cô leo xuống giường, đi ra hành lang, xuống cầu thang bắc. Ở chiếu nghỉ cô dừng lại một chút. Tiếng hát vọng lên cầu thang, dội vào bức tường vôi, nghe như có hai người hát.
Dưới chân cầu thang, ông Tư đang ngồi trên một cái ghế nhựa thấp, hút thuốc. Thấy cô, ông nhích ghế qua một bên, như nhường chỗ, dù chẳng có cái ghế thứ hai nào.
– Ngồi đi con. Ngồi bậc thang được rồi.
Quyến ngồi xuống bậc cuối. Bậc đá mài mát lạnh dưới đùi.
– Con nhỏ đó hát hay hông? – Ông hỏi.
– Dạ hay lắm.
– Năm nào nhà K cũng có một đứa hát hay. – Ông nói. – Mà năm nay con nhỏ này hay nhất. Hai chục năm nay, tui nghe nó là hay nhất.
– Ông ở đây lâu chưa ông?
– Ba chục năm. Tui làm bảo vệ nhà K từ năm chín lăm, hồi nó mới xây xong một nửa. Giờ già rồi, người ta cho tui ở lại chăm cây, sửa ống nước, thay bóng đèn. – Ông rít một hơi thuốc. – Tháng sau người ta còn cho tui ở không thì chưa biết.
– Sao vậy ông?
Ông không trả lời câu đó. Ông chỉ cằm về phía cây sứ.
– Cây đó có người trồng đó con. Hồi năm hai ngàn. Một thằng sinh viên ở lầu hai, bên dãy con. Nó đi đâu đó bẻ về một nhánh sứ dài cỡ cánh tay, cắm xuống đất ngay giữa sân. Ai cũng nói sứ cắm cành phải phơi cho khô mủ rồi mới cắm, cắm liền là thối. Nó nói, để coi. Nó tưới mỗi sáng, mỗi chiều, tưới suốt một năm. Vậy mà lên.
– Rồi người đó đâu ông?
– Học xong thì đi. – Ông Tư nói. – Ra trường thì ai cũng đi.
Câu đó ông nói nhanh quá, như người ta đẩy một cánh cửa cho nó đóng lại trước khi gió lùa.
– Ông nhớ tên người đó không?
– Lâu quá rồi. Quên. – Ông dụi điếu thuốc vào bậc thang, nhặt mẩu thuốc bỏ vào túi áo. – Mà nó có nói một câu tui nhớ hoài. Tui hỏi nó sao không trồng cây gì cho có bóng mát, trồng sứ chi, sứ là cây trồng ở chùa, ở nghĩa địa. Nó nói, tại cây sứ chịu nắng, chịu hạn, bỏ nó một tháng không tưới nó cũng không chết. Nó nói, ở cái chỗ nghèo như nhà K này thì phải trồng cây gì không cần người ta chăm.
– Mà ông vẫn tưới nó mỗi ngày.
Ông Tư quay sang nhìn cô. Dưới ánh đèn tuýp từ trên cầu thang hắt xuống, Quyến thấy đôi mắt nhỏ của ông nheo lại, như đang tính toán một chuyện gì.
– Ờ. – Ông nói. – Thì tui tưới.
H'Riêm hát xong bài có con nai thì dừng. Có tiếng vỗ tay lác đác, rồi nhiều hơn, rồi cả hai dãy nhà vỗ tay. Dưới gốc cây sứ, cái bóng nhỏ ôm đàn đứng dậy, cúi đầu một cái thật nhanh về phía tối, rồi đi về phía cầu thang nam, vòng qua đường xa nhất để khỏi đi ngang chỗ có đèn.
Quyến chào ông Tư, leo lên cầu thang.
Lên tới lầu hai, cô nghe tiếng chân trên cầu thang sau lưng. Không phải tiếng chân của H'Riêm. Tiếng giày đế bằng, đều, chắc nịch. Và một giọng nói Nam Bộ cô đã nghe một lần, vào ngày đầu tiên ở đây.
– Hai mươi hai giờ bốn mươi. Kiểm tra phòng. Đứa nào chưa ngủ thì mở cửa ra cô coi.
Quyến chạy. Chưa bao giờ hành lang lầu hai dài như thế. Phòng hai mười bốn ở giữa dãy, cách cầu thang bảy cánh cửa. Cô nghe sau lưng tiếng cô Huyên gõ cửa phòng hai lẻ một, rồi giọng một đứa con gái ngái ngủ trả lời.
Cô đẩy cửa phòng mình. Cửa vẫn cài móc từ bên trong. Cô gõ ba tiếng, gõ gấp.
– Ai? – Giọng Nghi.
– Tui! Mở cửa! Cô Huyên lên kiểm tra phòng!
Có tiếng lục đục bên trong. Tiếng chị Mỉn nói: "Rút điện, rút điện!" Tiếng nắp thùng sơn va vào chân giường. Cái móc cửa bật ra. Quyến lách vào.
Nồi cơm đã được rút điện, đã được đặt vào lại cái thùng sơn, nắp thùng đã đậy. Nhưng chị Mỉn chưa kịp đẩy nó vào gầm giường. Nó nằm giữa lối đi. Và từ cái khe giữa nắp thùng với miệng thùng, một sợi hơi nước trắng mỏng vẫn đang bay lên, thẳng đứng, chậm rãi, dưới ánh đèn tuýp.
Tiếng giày đế bằng dừng lại ngay ngoài cửa.
– Phòng hai mười bốn. – Cô Huyên nói. – Cửa không khóa thì cô vô nghen.
Cánh cửa mở ra. Cô Huyên đứng đó, đeo kính lão, tay cầm cuốn sổ kiểm tra bìa xanh. Bốn đứa con gái đứng bốn góc phòng như bốn cái cột. Chị Mỉn đứng gần cái thùng sơn nhất, hai tay chắp sau lưng.
Cô Huyên nhìn từng đứa. Rồi bà hít mũi một cái, hai cái. Cả phòng thơm mùi cơm mới và mùi khô cá nướng bằng bàn ủi.
Rồi bà nhìn xuống cái thùng sơn, nhìn sợi hơi nước trắng đang bay lên từ khe nắp.
— Hết chương 4 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe