Chương 23: Hoa cà phê nở sau đợt nước đầu
– Năm đó ba mầy bảy tuổi.
Má nói câu đó khi hai má con đang ngồi chồm hổm sau cái lò than ở chợ xã, sáng mùng bốn Tết. Chợ mới họp lại, còn vắng. Mấy sạp vải chưa mở, chỉ có hàng rau, hàng thịt, với mấy bà bán đồ ăn sáng. Má đổ bột vào mười hai cái khuôn đất, đậy nắp, khều than. Khói than bay lên mỏng, mùi gạo nướng thơm. Quyến ngồi cạnh, xếp bánh ra đĩa, rưới nước mắm.
Ba đã về nhà tối mùng một, lúc trời tối hẳn, ống quần ướt tới đầu gối. Ba ăn nửa chén cơm, đi ngủ. Mùng hai, mùng ba, ba ở ngoài rẫy từ sáng tới chiều, đi dọc mấy hàng cà phê vừa tưới, cúi xuống nhìn từng gốc. Không ai nói chuyện cái phong bì. Không ai nói chuyện cái hiên. Cu Bin đi ngang ba thì đi nhón chân.
Sáng mùng bốn, cái phong bì không còn ở chân tấm hình ông nội nữa.
– Má thấy ba mầy lấy hồi khuya. – Má nói, khi cô hỏi. – Bỏ trong túi áo. Mở chưa thì má không biết.
Rồi má im, đổ bột, đậy nắp. Rồi má nói câu kia.
– Năm đó ba mầy bảy tuổi. Năm tám bảy. Ở ngoài quê. – Má khều một cục than đỏ ra khỏi lò, đẩy sang bên. – Ông nội mầy kể má nghe, chớ ba mầy không kể. Mùa nắng, gió Lào thổi, cả xóm nhà tranh. Nhà bên cạnh nấu cơm, cái bếp rơm bén lên mái. Ông nội với bà nội đi cấy ngoài đồng. Ở nhà có ba mầy với bà cố, bà cố mầy bị liệt nằm một chỗ.
Má lật cái nắp khuôn đầu tiên, lấy cây dao mỏng nạy bánh ra, xếp vào đĩa. Tay má làm đều như mọi khi.
– Ba mầy kéo bà cố mầy không nổi. Bảy tuổi mà. Ba mầy chạy ra đường la. Tới lúc ông nội chạy từ ngoài đồng về, cái mái nhà đã sụp một nửa. Ông nội lao vô vác bà cố ra. Ra được. Mà cái nhà thì cháy hết. Rồi lửa lan qua mấy nhà nữa. Cả xóm còn có cái miếu bà với cây sứ trước miếu là đứng.
– Lúc đó ba đứng ở đâu má?
– Đứng dưới gốc cây sứ. – Má nói. – Ông nội kể, ổng vác bà cố ra, đặt nằm dưới gốc cây sứ, rồi quay lại tìm thằng con, thì thấy nó đứng đó, ôm cái thân cây, mặt đen thui, không khóc. Mấy ngày sau mới khóc. Khóc cả tuần.
Quyến nhìn cái lò than. Mười hai cái chấm đỏ dưới đáy khuôn.
– Từ hồi đó ba mầy sợ lửa. – Má nói. – Cái sợ đó không phải sợ chơi. Nó theo ba mầy tới lớn. Hồi má mới về làm dâu, má không biết, má kêu ba mầy nhóm giùm cái bếp, ba mầy đứng trước cái bếp mà tay run, quẹt hoài không cháy. Má tưởng ba mầy giỡn. Ông nội kéo má ra sau hè nói nhỏ. Từ đó má không kêu nữa. Hai mươi năm nay, nhà mình nấu cơm, đốt nhang, đốt cỏ, đốt vàng, má làm hết. Tết nào ba mầy cũng đứng sau lưng má.
– Mà ba nói với má ba nấu mì bằng bếp điện.
– Ừ. – Má đậy lại cái nắp khuôn. – Ba mầy nói với má hồi cưới. Năm hai ngàn lẻ sáu. Nghèo lắm, không có tiền chụp hình cưới, làm năm mâm cơm là xong. Đêm cưới ba mầy ngồi ngoài hiên, nói với má là ba mầy từng học đại học dưới Sài Gòn, học kiến trúc, bị đuổi vì làm cháy phòng. Ba mầy nói cho má biết trước, má muốn bỏ thì bỏ. – Má cười, một cái cười rất ngắn. – Má hỏi cháy bằng gì. Ba mầy nói bếp điện. Má gật. Mà trong bụng má nghĩ: cái người đứng trước bếp củi quẹt diêm còn run, mà đi nấu mì một mình bằng bếp điện lúc nửa đêm?
– Rồi má có hỏi lại không?
– Không. – Má nói. – Ba mầy nói vậy là ba mầy muốn má tin vậy. Mầy biết ba mầy mà. Cái gì ba mầy không muốn nói thì có cạy miệng cũng không ra. Má nghĩ, chắc có chuyện gì đó, mà chuyện đó ba mầy chịu được một mình thì để ba mầy chịu. Má chỉ lo cho ba mầy đừng phải đứng gần cái bếp.
Quyến cầm cái đĩa bánh căn, nhìn mấy vòng nước mắm loang ra trên lớp bánh vàng giòn. Một người khách tới, má bán, thối tiền, cười nói. Khách đi, má lại khều than.
– Còn cái hình cưới trên vách? – Quyến hỏi. – Ba ba mươi tuổi.
– Năm mầy lên ba, ba mầy bán được mùa tiêu, dắt má lên thị trấn chụp bù. Ba mầy mặc cái áo sơ mi trắng mua ở chợ, cài kín cổ. Thợ chụp hình biểu cười, ba mầy không chịu cười. – Má lắc đầu. – Mầy hỏi chi?
– Không có gì má.
Cái áo sơ mi trắng cài kín cổ. Cái miệng mím lại như sợ cười thì hỏng hình. Quyến nhớ tấm hình thẻ trong cuốn sổ năm chín tám.
Hai má con dọn hàng lúc chín giờ. Đường về nhà có một đoạn đi ngang rẫy nhà ông Y Sơn. Lúc xe máy leo lên con dốc, má thắng lại.
– Trời đất ơi. Coi kìa.
Cả triền đồi trắng xóa.
Đợt nước đầu tưới hôm hai mươi bảy Tết đã làm cái việc nó vẫn làm mỗi năm. Những cành cà phê trơ trụi suốt mùa khô bây giờ nở hoa dày đặc dọc theo từng đốt lá, những chùm hoa trắng nhỏ li ti như những nắm cơm nếp ai đó vắt lên cành. Cả triền đồi, hàng này nối hàng kia, trắng như vừa có một đợt tuyết rơi lệch mùa. Và mùi thơm. Cái mùi thơm của hoa cà phê không giống mùi hoa nào khác, ngọt mà hăng, thơm như hoa bưởi pha với hoa nhài, đặc tới mức người ta phải thở chậm lại.
Quyến đã thấy cảnh này mười tám lần. Năm nào cô cũng thấy. Nhưng năm nay cô xuống xe, đứng ở mép đường, nhìn rất lâu.
– Ba mầy nói hoa cà phê nở có bốn ngày. – Má nói, vẫn ngồi trên xe. – Ngày thứ năm là rụng. Muốn coi thì coi liền.
Chiều mùng năm, Quyến đi ra rẫy nhà mình.
Ba đang ở đó, đứng giữa hai hàng cà phê, đội cái nón lá rách vành. Hoa nở kín cả sáu sào. Ong bay vo ve khắp nơi, tiếng ong đặc như tiếng một cái máy chạy xa xa. Ba đứng nhìn một cành cà phê, nhìn từng chùm hoa, tay chắp sau lưng.
Quyến đi lại, đứng cách ba vài bước. Ba không quay lại. Cô cũng không nói gì. Hai cha con đứng giữa rẫy hoa như vậy chừng mười phút. Một con ong đậu lên vai áo ba, bò một vòng, rồi bay đi.
– Hoa năm nay đều. – Ba nói. – Tưới đủ nước.
– Dạ.
– Mầy về lúc nào?
– Sáng mai ba. Xe sáu giờ.
Ba gật. Ba đưa tay nâng một cành cà phê lên, xoay nó lại, nhìn mặt dưới những chùm hoa, chỗ mấy cái nụ chưa kịp nở. Ba đếm nhẩm, môi mấp máy. Cô biết ba đang đếm số nụ trên một đốt, như năm nào ba cũng đếm để đoán mùa sau được bao nhiêu bao. Hồi nhỏ cô tưởng ai làm rẫy cũng đếm vậy.
Rồi ba đi tiếp dọc hàng cà phê, cúi xuống nhìn những chùm hoa ở gốc. Cô đi theo. Ba không nói thêm một chữ nào nữa, suốt cho tới lúc trời chạng vạng.
Tối đó, cu Bin leo lên cái chõng tre ở nhà trên, nằm cạnh chị, chân gác lên bụng chị như hồi còn nhỏ.
– Bà Quyến. – Nó nói nhỏ. – Bà với ba giận nhau hả?
– Không phải giận.
– Mùng một bà khóc. Tui nghe. – Thằng nhỏ im một chút. – Mà tui nói bà nghe cái này, bà đừng nói ba tui nói nghe.
– Ừ.
– Hồi tháng Mười, cái bữa bà gửi cái hình con chim, tối đó ba kêu tui lấy điện thoại, kiếm cái trường của bà trên mạng. Kiến trúc Nam Lộc. Ba biểu tui kiếm hình cái ký túc xá. Tui kiếm được mấy tấm, có tấm cái sân có cây sứ to đùng. Ba biểu tui phóng lớn lên. Phóng lớn nữa. Ba ngồi coi cái hình đó lâu lắm, rồi ba lấy ngón tay rờ lên cái màn hình, ngay chỗ cái cầu thang. – Cu Bin nói. – Rồi ba nói: "Cây lớn rồi." Rứa thôi. Rồi ba đi ra hiên hút thuốc.
Quyến nằm im.
– Bà Quyến. – Cu Bin hỏi, giọng vỡ ra chữ cao chữ thấp. – Ba hồi xưa ở cái chỗ đó hả?
– Ừ.
– Rứa sao ba không kể? Ba kể chuyện ngoài Quảng Ngãi hoài mà.
Quyến không trả lời được. Cô kéo cái mền đắp lên cho thằng em, lên tới cằm nó, như má vẫn làm.
– Ngủ đi. – Cô nói. – Mai mốt bà kể.
Sáng mùng sáu, trời còn tối, ba dắt xe máy ra sân.
Má đứng ở cửa, ngạc nhiên. Ba không chở ai đi đâu xa từ cái lần té giàn giáo. Lưng ba không chịu nổi những ổ gà đường đất. Má định nói gì, rồi thôi. Má chỉ dúi vào tay Quyến một túi nilon đựng bánh tét, mứt gừng, một hũ muối é mới.
– Ba chở mầy. – Ba nói. – Lên.
Quyến ngồi lên sau xe. Cô không dám ôm eo ba. Cô bám vào cái baga sắt phía sau. Ba chạy rất chậm, chậm hơn má. Mỗi lần xe qua một ổ gà, cô nghe ba hít vào qua kẽ răng, nhưng ba không thắng, không dừng.
Hai cha con không nói gì suốt quãng đường. Hai bên đường, những triền cà phê trắng hoa lướt qua trong sương sớm, mùi thơm trôi theo từng đợt gió.
Ra tới ngã ba, chiếc xe giường nằm đã đỗ sẵn, máy nổ, ông lơ xe đứng ở cửa la: "Sài Gòn, Sài Gòn, lên lẹ!" Quyến xuống xe. Ba vẫn ngồi trên yên, không tắt máy.
Ba thò tay vào túi áo khoác, lấy ra một gói giấy. Giấy báo cũ gói vuông vức, cột dây thun hai vòng. Qua lớp giấy cô ngửi thấy mùi cà phê rang, cái mùi má rang trong cái chảo gang hôm hai mươi tám Tết.
– Đưa chú Tư. – Ba nói.
Quyến cầm gói cà phê. Cô nhìn ba.
– Ba…
– Chú Tư uống đen, không đường, pha đậm, bỏ một hột muối. – Ba nói, mắt nhìn chiếc xe giường nằm, không nhìn cô. – Mầy pha cho ổng một lần. Đừng nói ba gửi.
– Sao ba nhớ ổng uống vậy?
Ba không trả lời. Ông lơ xe la thêm một tiếng. Quyến xách túi đồ, đi về phía cửa xe. Tới bậc lên xe, cô nghe ba gọi.
– Quyến.
Cô quay lại. Ba vẫn ngồi trên chiếc xe máy cũ, cái nón lá trên đầu, hai tay nắm ghi đông. Trời đã sáng hẳn. Cô thấy rõ mặt ba, nếp nhăn ở khóe mắt, cái miệng mím lại.
– Tay trái ổng. – Ba nói. Giọng ba khàn đi. – Còn cầm vòi nước được không?
— Hết chương 23 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe