Chương 17: Vẽ gió trên cầu
Cô đã trả lời ông Tư bằng một chữ "dạ".
Rồi cô ngồi chờ. Chờ ông nói tiếp, chờ ông kể cái tên, chờ ông mở cái hộp nào đó ra và lấy ra một tấm hình cũ. Nhưng ông Tư chỉ gật đầu, rất chậm, hai lần, như người ta gật đầu khi nghe bác sĩ đọc kết quả xét nghiệm mà mình đã đoán trước.
– Ừ. – Ông nói. – Vậy là đúng tuổi.
– Đúng tuổi gì ông?
– Con về đi. – Ông đứng dậy, mở cửa chòi. – Mai mốt tui kể. Bữa nay tui mệt.
Cô không đứng dậy.
– Ông ơi, con xin ông…
– Mai mốt. – Ông lặp lại. Giọng ông không gắt, nhưng có cái gì đó trong đó làm cô hiểu là nếu cô ngồi thêm, ông sẽ đi ra khỏi chòi mà để cô ngồi lại một mình. – Tui hứa với con. Mà không phải bữa nay.
"Mai mốt" của ông Tư kéo dài một tuần. Suốt một tuần, sáng nào ông cũng tưới cây sứ, chiều nào ông cũng ngồi ở chân cầu thang bắc hút thuốc, gặp cô thì gật đầu chào. Không nhiều hơn, không ít hơn. Cô không hỏi nữa. Cô sợ hỏi thêm thì cánh cửa chòi sẽ đóng hẳn.
Chiều thứ Bảy, mùng sáu tháng Mười Hai, câu lạc bộ Vẽ Đêm đi vẽ trên cây cầu đi bộ mới bắc qua sông ở trung tâm.
Mùa khô đã về. Trời chiều trong vắt, không một gợn mây, gió từ sông thổi lên mát rượi, mang theo mùi nước và mùi khói thuốc của mấy ông câu cá ngồi dọc kè. Cây cầu là một đường cong thép trắng vắt qua mặt sông, mặt cầu lát gỗ, hai bên lan can bằng kính. Chiều cuối tuần người ta đi dạo đông nghẹt: những cặp đôi chụp hình, những gia đình dắt con nhỏ, những đứa học trò đạp xe chậm rãi. Một ông cụ chống gậy đi từng bước, mắt nhìn xuống mặt sông như tìm cái gì đó đánh rơi.
Anh Toàn đứng giữa cầu, giơ tay lên, hét to cho cả câu lạc bộ nghe.
– Đêm nay luật thứ ba là: vẽ gió.
– Gió thì sao vẽ anh? – Một đứa năm nhất hỏi.
– Thì vẽ cái gì đang bị gió thổi. Tóc người ta. Áo người ta. Lá cờ. Mặt nước. Con chim. – Anh Toàn cười. – Vẽ cái không thấy được bằng cái thấy được. Vậy mới là nghề.
Quyến với Hy chọn một chỗ ở gần đầu cầu phía bên kia sông, nơi lan can kính chuyển thành một khoảng ban công nhỏ nhô ra mặt nước. Diễm Quỳnh ngồi cách đó chừng mười bước, cũng cầm tấm bìa cứng trên đùi, vẽ bằng cây bút kim. Mấy tuần nay Diễm Quỳnh đã nhanh hơn. Thỉnh thoảng bạn ấy liếc sang tờ giấy của Quyến, rồi cúi xuống tờ của mình.
Gió trên cầu mạnh hơn dưới đất. Quyến phải lấy hai cái kẹp gỗ kẹp tờ giấy vào tấm bìa. Cô vẽ một cô gái đứng tựa lan can, tóc dài bay ngược ra sau, tay giữ cái mũ. Vẽ một đứa nhỏ cầm cây chong chóng giấy, chong chóng quay tít. Vẽ một lá cờ trên cột ở đầu cầu, căng phần phật. Cô vẽ nhanh, mười nét, mười hai nét, xong. Không tẩy.
Hy ngồi bên cạnh, vẽ mặt sông. Cậu không vẽ người. Cậu vẽ những gợn sóng, từng đường cong nhỏ nối tiếp nhau, dày ở gần, thưa ở xa, chạy về một hướng.
– Ông vẽ sóng mà như vẽ sơ đồ. – Quyến nói.
– Thì sóng nó có hướng. Gió thổi từ phía biển lên. – Hy nói, không ngẩng đầu. – Nhìn sóng là biết gió từ đâu tới. Cái này tui thấy được. Không cần màu.
Mặt trời lặn. Bầu trời chuyển từ xanh sang tím, rồi sang một màu cam đỏ rực ở chân trời phía tây, sau những tòa nhà cao tầng. Đèn trên cầu bật lên, những dải đèn chạy dọc lan can, đổi màu từ từ.
– Trời đang màu gì? – Hy hỏi.
– Cam. Cam đỏ. Gần chân trời thì đỏ. Lên cao thì tím. Trên đầu mình thì xanh đậm.
– Tui thấy nó vàng xỉn. Rồi xám. Rồi xanh dương. – Hy nói. – Hồi nhỏ tui không hiểu sao người ta khen hoàng hôn đẹp. Tui thấy nó buồn thiu. Tới khi A Má tui ngồi kể cho tui nghe từng màu, tui mới tưởng tượng được.
Quyến đặt bút xuống.
– Ba ông có bao giờ kể không?
Hy im lặng một lúc. Gió thổi tóc cậu lòa xòa xuống trán. Cậu không vén lên.
– A Pá tui không kể. – Cậu nói. – A Pá tui pha sơn mười tám năm. Ổng là người pha màu giỏi nhất cái khu Chợ Lớn. Khách đem tới một miếng vải, một cái lá, một mảnh gạch, ổng nhìn một cái là pha ra đúng màu đó, không cần máy. Ổng hay nói: con mắt là đồ nghề của tiệm sơn. Rồi ổng có thằng con trai một không thấy được màu đỏ với màu xanh lá.
– Rồi sao?
– Rồi ổng coi như tiệm sơn không có người nối nghiệp. Ổng không nói ra. Mà từ hồi lớp Ba, tui ngồi ở tiệm, ổng không bao giờ cho tui đụng vào cái máy pha màu. Tui chỉ được ngồi tính tiền. – Hy cười nhạt. – Tui tính tiền nhanh lắm. Tui thuộc giá hết bốn trăm mã màu. Mà tui không biết mã màu nào là màu gì.
Ở đằng xa, anh Toàn đang thổi một cái còi nhựa, ra hiệu đổi chỗ. Không ai trong hai đứa nhúc nhích.
– Năm lớp Mười một, tui đi học vẽ ở một lớp luyện thi gần nhà. Tui nói với A Pá là đi học thêm Toán. Tui học hai năm. Tui vẽ toàn bằng bút chì, bút kim, không màu. Thầy dạy vẽ khen tui dựng hình giỏi. – Hy nói. – Tới lúc nộp nguyện vọng, tui ghi Kiến trúc. Tối đó cả nhà ăn cơm. Tui nói. A Pá tui đặt đôi đũa xuống, nhìn tui, rồi nói một câu: mù màu mà học kiến trúc. Rồi ổng nói thêm: con muốn học thì học, mà đừng về tiệm này nữa. Ổng không la. Ổng không bao giờ la. Ổng nói xong thì cầm đôi đũa lên, ăn tiếp.
– Rồi ông đi?
– Rồi tui đi. Sáng hôm sau. Ông Toản phòng tui hỏi sao người Sài Gòn mà ở ký túc xá, tui nói nhà xa. Nhà tui cách đây có mười lăm cây số. – Hy quay sang nhìn cô. – A Má tui ra cửa sau, nhét cái phong bì vô ba lô tui. A Má tui không nói gì hết. Chỉ nói: "A Hy, ăn cơm cho đủ."
Quyến không nói gì. Cô nghĩ tới ba. Cái cửa buồng đóng lại đêm trước ngày cô đi. Cái tin nhắn lúc nửa đêm nguyệt thực. "Học sư phạm thì giờ khỏi đóng tiền."
– Ba tui cũng không cho tui học kiến trúc. – Cô nói.
– Tui biết. Bà nói rồi. Nghề nhà giàu.
– Mà không phải vậy đâu. – Quyến nói. – Tui nghĩ không phải vì tiền.
Và cô kể.
Cô kể về con én hai nét, cái đuôi lệch phải. Về cái hộp bút gỗ mít. Về đêm mưa ở chiếu nghỉ, mảng vôi rơi, dòng chữ "K207 · 12.8.2000". Về cuộc điện thoại với ba, "én thì ai vẽ chẳng giống", tiếng tút tút. Về tin nhắn của cu Bin, ba ra hiên ngồi hút thuốc sau hơn một năm bỏ. Về thầy Thạc hỏi ai dạy cô cầm bút. Về chú Lợi nói đã tận mắt thấy cái cung cắt xốp đốt cháy một phòng ký túc, rồi bỏ lửng, bảo cô đi hỏi thầy Thạc. Về cái vệt đen trên trần phòng hai lẻ bảy mà ông Tư nói là dột. Về câu chuyện cây sứ chịu lửa, cái xóm ngoài Quảng Ngãi cháy rụi. Về câu hỏi cuối cùng của ông Tư: ba con năm nay bốn lăm phải không.
Cô kể một mạch, không dừng. Lúc cô kể xong, trời đã tối hẳn. Đèn trên cầu đổi sang màu xanh dương.
Hy ngồi im rất lâu.
– Vậy là bà nghĩ… – Cậu nói chậm. – Ba bà từng học ở trường mình. Ở nhà K. Phòng hai lẻ bảy. Và có chuyện gì đó xảy ra ở phòng đó.
– Tui không biết. – Quyến nói. – Tui chỉ biết ba tui nói dối. Ba tui nói dối mười tám năm.
– Có khi ba bà có lý do.
– Lý do gì mà phải nói dối con mình mười tám năm?
Hy không trả lời được. Gió thổi mạnh lên một đợt. Tờ giấy của Quyến, cái tờ cô vẽ cô gái tóc bay, cái tờ cô đã tháo kẹp gỗ ra từ lúc bắt đầu kể chuyện, bị gió giật khỏi tấm bìa, bay vút lên.
Cả hai cùng chồm theo. Hy với tay ra trước. Bàn tay cậu chộp được một góc tờ giấy, ngay sát mép lan can kính, chỉ cách khoảng không trên mặt sông một gang tay. Bàn tay Quyến chộp được góc kia. Hai đứa đứng đó, mỗi đứa giữ một góc tờ giấy, tờ giấy căng ra giữa hai người, phần phật trong gió như một lá cờ nhỏ.
Hai đứa nhìn nhau qua tờ giấy.
Quyến thấy mặt Hy dưới ánh đèn xanh dương của cây cầu. Cái kính gọng nhựa đen, cái tóc lòa xòa xuống trán. Cậu không cười cái nụ cười lệch một bên miệng. Cậu chỉ nhìn cô, như đang cố nhìn cho ra một màu gì đó mà cậu chưa bao giờ thấy.
– Quyến. – Cậu nói. Đó là lần đầu tiên cậu gọi tên cô, không phải "bà".
– Gì?
– Tui… – Hy ngừng. Gió vẫn thổi, tờ giấy vẫn phần phật giữa hai bàn tay. – Tui muốn nói là…
– Hai đứa kia! Lại đây! Câu lạc bộ chụp hình kỷ niệm!
Tiếng anh Toàn vang lên từ giữa cầu, kèm theo tiếng còi nhựa thổi liên hồi. Cả câu lạc bộ đã tụ lại ở đó, đứng thành ba hàng, đứa nào cũng giơ tờ giấy vẽ lên trước ngực. Diễm Quỳnh đứng ở hàng đầu, quay lại nhìn hai đứa.
Hy buông góc tờ giấy ra. Quyến cuộn nó lại.
– Ông muốn nói gì?
– Không có gì. – Hy nói. Cái nụ cười lệch quay lại trên mặt cậu, nhưng hơi run. – Tui muốn nói là cái hình cô gái tóc bay của bà đẹp. Vậy thôi.
Hai đứa đi về phía câu lạc bộ. Anh Toàn đếm một, hai, ba. Đèn flash lóe lên. Trong tấm hình, Quyến đứng ở hàng cuối cùng, cầm tờ giấy cuộn tròn, còn Hy đứng bên cạnh cô, cách một khoảng vừa đủ để không chạm vai.
Trên xe buýt về, hai đứa không nói chuyện nhiều. Hy đeo tai nghe, nhưng cái dây tai nghe không cắm vào điện thoại. Quyến nhìn ra cửa kính, nhìn những dãy đèn đường chạy lùi lại.
Lúc xe dừng ở trạm Cụm Đông, điện thoại cô rung.
Một tin nhắn. Từ một số cô đã lưu từ ngày đầu tiên, với cái tên cô đặt là "Cô Huyên nhà K". Cô Huyên chưa bao giờ nhắn tin cho cô. Bà không nhắn cho ai. Bà chỉ dán giấy lên bảng tin.
"Quyến. Mai Chủ nhật con qua phòng cô, chín giờ sáng. Cô với ông Tư tìm được hồ sơ cũ rồi."
— Hết chương 17 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe