Chương 18: Hồ sơ năm 2001
Cuốn sổ bìa cứng màu nâu đã sờn hết bốn góc, gáy sổ dán lại bằng băng keo vải đen. Trên bìa, nét chữ của cô Huyên, mực bút bi xanh đã phai: "Nhà K. Năm học 1998 – 1999."
Cô Huyên đặt nó lên cái bàn gỗ, ngay trước mặt Quyến. Bên cạnh nó là một cuốn sổ nữa, "Năm học 2000 – 2001", và một cái bìa giấy màu vàng cột dây thun, loại bìa người ta dùng để đựng hồ sơ ở các cơ quan.
Văn phòng nhà K sáng Chủ nhật vắng tanh. Cửa sổ mở, nắng mùa khô chiếu vào thành một vệt vàng trên nền gạch. Cái quạt đứng ở góc phòng quay qua quay lại, thổi những tờ giấy trên bàn lật phật. Ông Tư ngồi trên một cái ghế nhựa cạnh cửa ra vào, hai tay đặt trên đùi, tay trái úp xuống, giấu vết sẹo.
– Ba chục cuốn. – Cô Huyên nói. – Cô kể con rồi. Mỗi năm cô chép một cuốn. Hồi đó chưa có máy tính, cô chép tay, dán hình thẻ của từng đứa vô. Đứa nào ra trường, đứa nào bỏ học, đứa nào chết, cô đều ghi. – Bà đẩy cuốn sổ năm 1998 về phía Quyến. – Trang bốn mươi mốt.
Quyến mở cuốn sổ. Giấy đã ngả vàng, có mùi mốc như mùi tủ sách cũ ở thư viện trường cấp ba. Mỗi trang kẻ ô bằng thước, mỗi ô một sinh viên: họ tên, ngày sinh, trường, khóa, quê quán, phòng, và một tấm hình thẻ ba nhân bốn dán ở góc. Có tấm đã bong một nửa, có tấm còn dính chặt.
Trang bốn mươi mốt. Phòng hai lẻ bảy. Tám ô.
Ô thứ ba.
"Phan Văn Tín. Sinh 1980. Đại học Kiến trúc Nam Lộc, khóa 1998. Quê: Quảng Ngãi. Phòng K207."
Tấm hình thẻ trắng đen, đã ố vàng ở một góc. Một cậu con trai mười tám tuổi, tóc húi cua, mặc áo sơ mi trắng cài kín cúc cổ, nhìn thẳng vào ống kính. Gầy. Gò má cao. Đôi mắt hơi xếch, mí lót, giống hệt đôi mắt Quyến nhìn thấy mỗi sáng trong cái gương nhỏ ở nhà vệ sinh cuối hành lang. Cái miệng mím lại như sợ cười thì hỏng hình.
Quyến nhìn tấm hình rất lâu.
Cô chưa bao giờ thấy ba ở tuổi này. Nhà cô không có hình cũ. Má nói hồi ba má cưới, nghèo quá, không chụp hình được, chỉ có một tấm hình cưới chụp ở tiệm trên thị trấn, ba ba mươi tuổi, đã có nếp nhăn ở khóe mắt. Cô đã tưởng ba lúc nào cũng có nếp nhăn ở khóe mắt.
Ở ô bên cạnh, ô thứ tư, là một tấm hình thẻ khác. Một cậu con trai đeo kính gọng to, tóc rẽ ngôi lệch, cười mỉm, nụ cười của người không biết sợ hỏng hình.
"Tạ Đăng Thạc. Sinh 1979. Đại học Kiến trúc Nam Lộc, khóa 1997. Quê: Nam Định. Phòng K207."
– Hai đứa nó ở chung phòng ba năm. – Cô Huyên nói. – Giường tầng kế nhau. Thằng Thạc học trên một khóa, mà nó hay ngồi chỉ bài cho thằng Tín. Tối nào cũng ngồi ngoài hành lang lầu hai, hai cái đầu chụm vô một cái đèn bàn, vẽ tới khuya. Cô đi kiểm tra phòng, cô la hoài. Tụi nó gọi cô là "bà chằn nhà K".
Quyến không nói được gì. Ngón tay cô đặt lên tấm hình của ba, rồi rút lại, như sợ làm bong nó ra.
Cô Huyên mở cuốn sổ năm 2000 – 2001. Lật tới trang ba mươi chín. Vẫn phòng hai lẻ bảy. Vẫn hai tấm hình đó, hai cậu con trai đã lớn hơn hai tuổi. Ở ô của ba, dưới dòng quê quán, có một dòng chữ viết thêm bằng mực đỏ:
"Buộc thôi học ngày 18/5/2001. Lý do: gây cháy phòng K207 đêm 21/4/2001."
Quyến đọc dòng chữ đỏ đó một lần. Rồi cô đọc lại. Rồi cô đọc lại lần nữa, từng chữ một, như đọc một câu tiếng nước ngoài.
– Con đọc cái này đi. – Cô Huyên tháo sợi dây thun ra khỏi cái bìa vàng.
Bên trong là mấy tờ giấy pơ-luya đánh máy chữ, mực đã nhạt, có chỗ lem. Tờ trên cùng có tiêu đề in hoa: "BIÊN BẢN SỰ VIỆC". Ngày lập: 22 tháng 4 năm 2001.
"Vào khoảng 23 giờ 40 phút ngày 21/4/2001, tại phòng K207 nhà K, Ký túc xá Cụm Đông, xảy ra cháy. Ông Lưu Văn Mẫn, bảo vệ nhà K, phát hiện khói từ cửa sổ phòng K207, đã cùng sinh viên Phan Văn Tín và các sinh viên phòng bên cạnh dùng bình chữa cháy và nước dập tắt đám cháy. Ông Lưu Văn Mẫn bị bỏng tay trái, đã được đưa đi sơ cứu. Không có thương vong về người.
Thiệt hại: cháy một giường tầng, chăn màn, quần áo, sách vở, toàn bộ đồ án và mô hình của sinh viên phòng K207. Trần phòng bị ám khói, sàn bị hư hỏng một phần, khung cửa sổ biến dạng. Đồ án của sinh viên các phòng K205, K209 bị ám khói.
Tại thời điểm xảy ra cháy: sinh viên Tạ Đăng Thạc đang ở văn phòng nhà K gọi điện thoại về gia đình. Sinh viên Phan Văn Tín trở về phòng lúc khoảng 23 giờ 35 phút, phát hiện cháy, báo động. Sáu sinh viên còn lại của phòng K207 về quê dịp cuối tuần, không có mặt.
Nguyên nhân sơ bộ: theo tường trình của sinh viên Phan Văn Tín, sinh viên này đã sử dụng bếp điện để nấu ăn trong phòng, sau đó đi ra ngoài mà không tắt bếp, gây cháy chăn màn để gần."
Tờ thứ hai là bản tường trình viết tay. Quyến nhận ra nét chữ ngay khi nhìn thấy nó. Chữ in nghiêng nghiêng. Chữ "g" có cái móc dưới kéo dài sang trái. Chữ "đ" có cái gạch ngang chạy quá ra ngoài. Đó là nét chữ trên những tờ lịch sinh nhật, nét chữ ghi số đo lên ván bằng mẩu than, nét chữ ghi trên mười tám bức tranh: "Cho Quyến, tuổi…"
"Tôi tên là Phan Văn Tín, sinh viên Kiến trúc khóa 1998, ở phòng K207. Tối ngày 21/4/2001, khoảng 23 giờ, tôi dùng bếp điện nấu mì trong phòng. Sau đó tôi ra ngoài đi dạo, quên không rút điện bếp. Bếp nóng làm cháy mền để cạnh. Tôi xin nhận hoàn toàn trách nhiệm. Bạn cùng phòng của tôi là Tạ Đăng Thạc không có mặt và không liên quan. Tôi xin lỗi bác Mẫn và ban quản lý."
Ký tên: Phan Văn Tín.
Và ở góc dưới bên phải, cạnh chữ ký, nhỏ tới mức phải nhìn kỹ mới thấy, là một nét cong, một nét chẻ.
Quyến đặt tờ giấy xuống bàn. Hai bàn tay cô đặt lên mặt bàn gỗ, úp xuống, ấn chặt, như sợ cái bàn sẽ bay mất.
Căn phòng im. Chỉ có tiếng cái quạt đứng quay qua quay lại.
– Ba con tự nhận. – Cô Huyên nói, giọng nhỏ hơn mọi lần. – Không ai ép nó. Sáng hôm sau nó lên văn phòng, ngồi viết cái tờ đó trước mặt cô. Cô hỏi nó có chắc không, nó nói chắc. Hồi đó nhà trường xử nặng lắm con. Năm đó có hai vụ cháy ở hai ký túc xá khác trong thành phố, có một vụ chết người. Ở trên ra lệnh xử thật nghiêm. Nên mới buộc thôi học.
– Rồi ba con… – Quyến nói. Giọng cô khàn đi. – Rồi ba con đi đâu?
– Về quê. Cô không biết. – Cô Huyên lắc đầu. – Nó dọn đồ đi một buổi sáng. Không chào ai. Thằng Thạc lúc đó đi thi vấn đáp học bổng du học ở trong trường. Về tới thì giường thằng Tín trống trơn rồi. Thằng Thạc chạy đi tìm khắp nơi. Ra bến xe, không thấy. Nó viết thư về Quảng Ngãi, không ai trả lời. Rồi tháng Chín nó đi du học. Bảy năm sau mới về.
Quyến quay sang ông Tư.
Ông vẫn ngồi trên cái ghế nhựa cạnh cửa, hai tay úp trên đùi. Ông nhìn ra ngoài sân, nhìn về phía cây sứ. Từ lúc cô bước vào, ông chưa nói câu nào.
– Ông. – Quyến nói. – Ông là người bị bỏng.
– Ừ.
– Do ba con.
Ông Tư không trả lời ngay. Ông nhìn xuống bàn tay trái của mình, rồi từ từ lật nó lên, cho cô thấy cái mảng da bóng lưỡng, nhăn nhúm, màu hồng nhạt kéo từ mu bàn tay lên tới cổ tay.
– Biên bản ghi vậy. – Ông nói. – Ba con ký vậy.
– Ông có giận ba con không?
Ông Tư nhìn cô. Đôi mắt nhỏ của ông đỏ hoe, nhưng không có giọt nước nào.
– Giận thì đã không tưới cây sứ của nó hai mươi lăm năm. – Ông nói.
Ông đứng dậy, đi ra cửa. Đi được hai bước, ông dừng lại, quay lưng về phía cô, nói thêm:
– Hồi tuần trước con hỏi tên nó, tui không nói. Tui với cô Huyên ngồi bàn hết một tuần. Tui nói để từ từ. Cô Huyên nói, con nhỏ đã cạo ra con én rồi, đã đo ra cái vệt đen rồi, đã ghi vô bản vẽ cho cả lớp coi rồi, thì thế nào nó cũng biết. Mà biết từ miệng người khác thì tệ hơn. – Ông ngừng. – Cô Huyên nói đúng.
Ông đi ra. Tiếng dép tổ ong lẹp xẹp xa dần.
Quyến ngồi lại với cô Huyên thêm một lúc. Cô không hỏi gì thêm. Cô không biết hỏi gì. Cô chỉ nhìn tấm hình thẻ trắng đen của cậu con trai mười tám tuổi, tóc húi cua, áo sơ mi cài kín cúc cổ, cái miệng mím lại.
– Cô cho con chụp hình được không cô?
– Chụp đi. – Cô Huyên nói. – Mà con đừng gửi cho ba con. Không phải cô cấm. Cô chỉ nghĩ, nó giấu chuyện này hai mươi mấy năm, chắc nó có lý do. Con đợi về Tết, hỏi mặt nó. Cái điện thoại không hỏi được mấy chuyện này đâu con.
Quyến chụp. Tấm hình của ba trong cuốn sổ năm 1998. Bản tường trình. Dòng chữ đỏ. Cô chụp xong thì không dám mở ra xem lại.
Cô đi ra khỏi văn phòng. Nắng đã lên cao, chói chang. Cô đi qua sân, đi qua những sợi dây phơi quần áo, đi qua cái bàn đá nơi mấy đứa năm ba đang ngồi ăn mì. Đi qua tiếng radio phát nhạc trẻ từ một phòng nào đó ở dãy nam.
Rồi cô dừng lại.
Ông Tư đang đứng dưới gốc cây sứ. Ông cầm vòi nước, tưới như mọi buổi sáng, tưới vòng quanh gốc, chậm rãi, từng vòng một. Nắng chiếu xuyên qua tán lá, rơi lốm đốm lên lưng áo xanh sờn cổ của ông, lên mái tóc bạc, lên bàn tay trái đang cầm đầu vòi.
Lần này ông không giấu bàn tay đó. Ông cầm vòi nước bằng tay trái, bàn tay có mảng da bóng lưỡng, nhăn nhúm, màu hồng nhạt, những ngón tay co quắp lại một chút ở khớp, nắm chặt lấy khúc ống nhựa.
Nước từ đầu vòi chảy ra, trong vắt, lấp lánh dưới nắng, thấm xuống gốc cây sứ mà ba cô đã trồng, hai mươi lăm năm trước, trong cái sân của cái nhà mà ba cô đã đốt.
— Hết chương 18 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe