Chương 3: Cổng khóa lúc mười một giờ
Hai triệu bốn trăm mười ngàn.
Quyến đếm lại lần thứ hai, ngồi xếp bằng trên giường tầng, cái phong bì mở ra trên đùi. Năm ngày học, cô đã tiêu bảy trăm năm chục ngàn. Một xấp giấy A1 hai mươi tờ. Ba cây bút kim cỡ không chấm một, không chấm ba, không chấm năm, mỗi cây bốn mươi lăm ngàn. Một tấm bìa cứng khổ lớn để làm bảng vẽ. Một cây thước sắt dài một mét, vì cô không thể mượn của Hy mãi. Tiền in hai bản A3 ở tiệm photo cổng trường, tám ngàn một bản. Tiền điện nước tháng này chia đầu người. Và ăn.
Cô đã ăn rất ít. Sáng một ổ bánh mì không năm ngàn, bẻ đôi, nửa ăn sáng, nửa để trưa. Tối nấu mì gói bằng nước sôi ở bình cuối hành lang, bốn ngàn rưỡi một gói, bỏ thêm một nhúm muối é của má cho có vị. Vậy mà vẫn bảy trăm năm chục ngàn.
Học kỳ này còn mười bốn tuần.
Cô gấp phong bì, nhét xuống dưới tấm nệm, chỗ đầu giường sát tường. Rồi cô leo xuống, mang dép, đi ra cổng ký túc xá.
Trên cột điện trước cổng dán chi chít giấy quảng cáo. Cho thuê phòng trọ. Tuyển gia sư lớp Chín. Tuyển nhân viên phát tờ rơi, ba trăm ngàn một ngày, liên hệ số này. Có tờ đã bị mưa làm nhòe mất nửa số điện thoại. Quyến đứng đọc hết, ghi vào cuốn tập ba số. Gọi số đầu, gia sư, người ta hỏi cô học trường nào, cô nói Kiến trúc, người ta nói cần người dạy Toán khối A, ngành gì cũng được nhưng phải có xe máy. Cô không có xe máy. Gọi số thứ hai, phát tờ rơi, không ai bắt máy.
Số thứ ba không có trên cột điện. Nó viết bằng phấn trên một tấm bảng gỗ dựng trước một quán lẩu ở đầu con đường dẫn vào khu ký túc xá: "Cần người rửa chén ca tối. Vô hỏi chủ."
Quán tên Lẩu Dê Bảy Hường, mái tôn, mười hai cái bàn nhôm xếp ra tận lề đường, mùi lá giang với mùi chao bay xa nửa con phố. Chủ quán là một bà ngoài sáu mươi, người tròn trịa, tóc nhuộm đỏ, đeo ba chiếc vòng vàng mỏng ở cổ tay, đang ngồi xổm trước một thau dê chặt sẵn.
– Rửa chén hả? Bao nhiêu tuổi? – Bà không ngẩng lên.
– Dạ, mười tám. Con học Kiến trúc.
– Học gì tao không quan tâm. Tay có bị gì không? Có bị dị ứng xà bông không?
– Dạ không.
– Năm giờ rưỡi tới mười giờ rưỡi. Hai mươi hai ngàn một giờ. Chủ nhật trả lương. Tối nay làm thử. Bể cái chén nào trừ cái đó. – Bà ngẩng lên lần đầu, nhìn cô từ đầu xuống chân. – Mà con này ốm nhom vầy, khiêng nổi thau nồi không?
– Dạ nổi.
– Ừ, nói nổi là nổi nghen. Đừng có mai mốt khóc.
Chỗ rửa chén ở sau quán, một khoảng sân xi măng lợp tạm tấm bạt xanh. Ở đó có hai cái thau nhôm lớn, một cái vòi nước, một can nước rửa chén loại hai mươi lít, và một chồng nồi lẩu nhôm đen sì đáy. Làm chung với Quyến có chị Liên, ngoài ba mươi, người Bến Tre, làm ở đây sáu năm, rửa chén nhanh tới mức tiếng chén va nhau nghe như mưa đá.
– Nồi lẩu thì ngâm trước, đừng có chà liền, mất sức. Chén thì tráng nước nóng trước, mỡ dê nó đóng lại là chà muốn gãy tay. – Chị Liên chỉ. – Mà em đeo bao tay vô. Không đeo tuần sau tay nứt hết, cầm viết hổng nổi.
Quyến đeo bao tay. Bao tay cao su cũ, ngón trỏ bên phải đã thủng một lỗ nhỏ.
Tối thứ Sáu quán đông vừa vừa. Tới mười giờ rưỡi cô rửa xong chồng nồi cuối, đứng dậy, cái lưng như có ai bẻ ngược. Bà Bảy đếm tiền, nhét vào tay cô một trăm mười ngàn. Năm tiếng. Cô cầm tờ một trăm với tờ mười ngàn, gấp lại, đi bộ về. Gió đêm thổi qua bàn tay ướt, lạnh ngắt. Ngón trỏ bên phải, chỗ lỗ thủng bao tay, đã trắng bệch và nhăn như ngón tay người chết đuối.
Về tới phòng, chị Mỉn ngửi một cái, nói:
– Mùi dê.
– Dạ. Em đi rửa chén quán lẩu.
– Bà Bảy Hường hả? – Chị Mỉn gật. – Chị làm ở đó năm nhất. Bả chửi nhiều mà trả đủ. Có điều thứ Bảy coi chừng. Thứ Bảy quán đông, bả giữ lại tới khuya, mà cổng ký túc khóa mười một giờ. Năm đó chị bị nhốt ngoài hai lần, ngủ ở tiệm net.
Quyến nhớ câu đó. Nhưng cô quên mất là thứ Bảy đến sớm như thế.
Tối thứ Bảy, quán kín bàn từ sáu giờ. Một đám đàn ông mặc áo công ty giống nhau ngồi ba bàn ghép, gọi thêm lẩu bốn lần, hát karaoke trên điện thoại. Chồng nồi sau quán cao lên rồi lại thấp xuống, rồi lại cao lên. Chị Liên rửa không ngẩng đầu. Quyến cũng không. Bàn tay cô, dù đeo bao tay, đã bắt đầu rát ở các kẽ ngón. Mười giờ, khách vẫn chưa về. Mười giờ rưỡi, bà Bảy ra sau nói:
– Hai đứa ráng thêm chút, bàn công ty sắp tính tiền rồi. Tao trả thêm giờ.
Mười giờ bốn mươi, bàn công ty tính tiền. Họ bỏ lại chín cái nồi và gần trăm cái chén. Quyến nhìn đồng hồ trên điện thoại, nhìn chồng chén, nhìn chị Liên. Chị Liên nói:
– Em ở ký túc hả? Mười một giờ khóa cổng đó. Em về đi, chị rửa cho.
– Còn nhiều quá chị.
– Chị ở trọ, không ai khóa cổng chị. Về đi.
Quyến cởi bao tay. Bà Bảy đang đứng ở quầy, đếm tiền của bàn công ty. Quyến đứng chờ. Bà đếm xong, ghi sổ, cột lại bằng dây thun, cất vào ngăn kéo, rồi mới quay ra.
– Gì?
– Dạ, con xin về. Mười một giờ ký túc khóa cổng.
– Ờ. – Bà mở ngăn kéo, đếm. – Năm tiếng rưỡi, tao làm tròn sáu. Một trăm ba mươi hai. Cầm đi. Mai Chủ nhật nghỉ, thứ Hai làm tiếp.
Lúc Quyến bước ra khỏi quán, điện thoại chỉ mười giờ bốn mươi tám phút.
Từ quán về cổng ký túc xá gần hai cây số. Đi bộ hai mươi lăm phút. Cô có mười hai phút.
Cô chạy.
Con đường dẫn vào khu ký túc xá là một đường nhựa hai làn, một bên là tường rào một nhà máy cũ, một bên là những dãy nhà trọ thấp, quán nhậu, tiệm sửa xe. Giờ này quán nhậu còn sáng đèn, tiệm sửa xe đã đóng. Quyến chạy trên lề, ba lô đập vào lưng. Cô không mang dép thể thao, chỉ có đôi dép quai hậu, chạy được một đoạn thì quai bên trái tuột. Cô cúi xuống kéo lên, chạy tiếp, nó tuột lần nữa. Cô cởi luôn hai chiếc, cầm trên tay, chạy chân không.
Mặt đường còn ấm hơi nắng ban ngày. Có những đoạn lề lát gạch vỡ, mảnh gạch cứa vào gan bàn chân. Cô không dừng.
Mười giờ năm mươi bốn. Cô đã qua được nửa đường, tới cái cầu bắc qua con kênh nhỏ. Phổi cô rát như có ai thổi lửa vào. Ở trên rẫy, cô đã từng gánh hai thùng nước tưới cà phê lên dốc, nhưng chưa từng chạy một mạch như thế này, trên mặt đường nhựa, ở một thành phố cô chưa thuộc tên con đường nào.
Một tiếng chuông xe đạp vang lên phía sau lưng.
– Ê! Bà kia! Nhà K phải hông?
Quyến quay lại. Một chiếc xe đạp cũ, khung sơn đen tróc, ghi đông cong như sừng trâu, chạy sát lề, chậm lại bên cạnh cô. Người đạp là Hy. Cậu mặc áo thun đen, đeo một cái túi vải chéo vai căng phồng, mồ hôi bết tóc vào trán.
– Ông… đi đâu giờ này?
– Đi giao đồ cho mấy ông năm hai, ăn ké phí ship. Lên đi, còn bảy phút.
Cô không hỏi nữa. Cô ngồi lên cái baga sau, một tay ôm ba lô với đôi dép, một tay níu vào yên xe. Hy đứng lên bàn đạp, xe lắc qua lắc lại rồi lao đi. Gió tạt vào mặt cô mùi mồ hôi, mùi kênh, mùi hoa sứ từ một nhà ai đó bên đường.
– Bà làm ở đâu? – Hy hỏi, không quay đầu.
– Lẩu dê Bảy Hường.
– Trời. Ông Toản phòng tui nói bà đó thứ Bảy giữ người như giữ tù.
– Giờ tui biết rồi.
Cổng ký túc xá Cụm Đông hiện ra ở cuối đường, ánh đèn vàng trên cái mái vòm bê tông. Cánh cổng sắt lớn còn mở hé. Hy đạp nhanh hơn. Còn khoảng năm chục mét thì một bóng người mặc áo bảo vệ bước ra, kéo cánh cổng sắt lại. Tiếng cổng sắt rít trên đường ray nghe lạnh cả gáy.
– Chú ơi! Chú ơi chờ con với! – Hy la.
Cánh cổng đóng lại. Tiếng ổ khóa bấm cạch. Người bảo vệ đứng bên trong song sắt, rọi đèn pin ra.
– Mười một giờ hai phút rồi. Quy định rồi con.
– Chú, có hai phút…
– Hai phút cũng là trễ. Thẻ ra vào khóa tự động từ mười một giờ, chú mở cũng không được. Mai năm giờ vô. – Ông bảo vệ tắt đèn pin, quay vào chòi.
Quyến đứng trước cánh cổng, chân không, tay cầm đôi dép, mồ hôi chảy xuống cằm. Một trăm ba mươi hai ngàn trong túi quần. Ngủ tiệm net, mười ngàn một giờ, sáu tiếng là sáu chục ngàn. Gần nửa số tiền tối nay.
Hy không có vẻ gì là lo. Cậu dắt xe đạp đi dọc theo hàng rào, về phía bên trái.
– Đi. Cửa sau.
– Cửa sau gì?
– Nhà K có cửa phụ ở sau nhà xe. Ông Tư giữ chìa. Ông Toản nói ông Tư ngủ ở cái chòi tôn sát đó. Ổng hiền.
– Ông Tư là ai?
– Ông bảo vệ già ở nhà K. Cái ông tưới cây sứ.
Hai đứa đi dọc hàng rào kẽm gai thêm gần trăm mét. Phía sau nhà K, sát nhà xe, có một cánh cửa sắt nhỏ chỉ vừa một người, khóa bằng một ổ khóa chữ U. Bên trong hàng rào có một căn chòi lợp tôn, cửa sổ còn le lói ánh đèn và tiếng cải lương từ một cái radio cũ.
Hy gõ vào song sắt, nhẹ thôi.
– Ông Tư ơi. Ông Tư.
Tiếng radio tắt. Cửa chòi mở. Ông già bước ra, mặc áo ba lỗ, quần đùi, tay cầm đèn pin. Ông rọi vào mặt Hy, rồi rọi qua Quyến, dừng lại ở hai bàn chân trần của cô.
– Bây đi đâu giờ này?
– Dạ, con đi giao đồ ăn. Còn bạn này đi rửa chén ở quán lẩu.
– Quán Bảy Hường hả? – Ông thở dài. – Năm nào cũng có một đứa.
Ông móc trong túi quần ra một chùm chìa khóa, chọn một cái, mở ổ khóa chữ U. Cánh cửa nhỏ kêu kẽo kẹt. Hy dắt xe vào trước. Quyến bước vào sau, vội quá nên vướng vai vào khung cửa. Cái ba lô bị kéo lệch, khóa kéo lâu nay đã hư một nửa bung ra.
Đồ trong ba lô rơi xuống nền xi măng. Cuốn tập. Cuộn thước vải của má. Và cái hộp bút gỗ.
Cái hộp lăn hai vòng, dừng lại ngay dưới chân ông già, nắp ngửa lên.
Ông Tư cúi xuống nhặt. Ông rọi đèn pin vào nó, định đưa lại cho cô. Rồi ông không đưa.
Ánh đèn pin dừng lại trên mặt nắp hộp, trên con chim én khắc bằng hai nét. Ông nhìn nó. Quyến đứng chờ, cúi xuống nhặt cuốn tập, cuộn thước, rồi ngẩng lên, ông vẫn nhìn. Ngón cái tay phải của ông miết theo nét cong của cánh én, chậm, từ đầu này qua đầu kia, như người ta dò theo một vết sẹo cũ trên da mình.
– Hộp này ai làm vậy con? – Ông hỏi. Giọng ông khác hẳn lúc nãy, nhỏ và khàn.
– Dạ, ba con.
Ông Tư im lặng. Tiếng muỗi vo ve quanh bóng đèn ở cửa chòi. Bên kia sân, cây sứ đứng đen thẫm dưới trời không trăng.
Rồi ông đưa cái hộp lại cho cô, đặt vào lòng bàn tay cô mà không nhìn cô nữa.
– Lên ngủ đi. – Ông nói. – Mai mốt về trễ thì gõ cửa tui. Đừng chạy chân không vậy nữa, đứt chân.
Ông quay vào chòi. Cánh cửa khép lại. Quyến đứng trong sân, cầm cái hộp bút. Cô đợi tiếng radio bật lên lại.
Suốt lúc cô đi qua sân, leo lên cầu thang bắc, tới tận khi cô đứng trước cửa phòng hai mười bốn, cái chòi tôn vẫn không có tiếng cải lương nào nữa. Nằm trên giường nhìn qua song cửa sổ, cô thấy ánh đèn trong chòi còn sáng tới lúc cô ngủ thiếp đi.
— Hết chương 3 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe