Chương 7: Những dòng chi khác
Chị Ba Châu về lại Quảng Ngãi sáng thứ Ba bằng chính chiếc xe 03 của nhà, nằm giường số một tầng dưới. Việc đầu tiên chị làm khi bước xuống bến là hỏi chị Sáu Liên mượn chìa phòng kế toán.
– Mười năm. – Chị nói. – Em muốn coi hết sổ sách mười năm. Chứng từ gốc, sao kê ngân hàng, hợp đồng. Không cần chị giải thích, chị cứ để em coi.
Chị Liên nhìn chị Ba qua cặp kính lão, rồi nhìn xuống cái va li bánh xe chị kéo theo. Cái va li nhẹ hều. Bên trong chỉ có một cái laptop, một cái máy tính bỏ túi, hai bộ đồ, và một hộp bút bi đủ màu.
– Anh Hai có biết không em?
– Em có phần trong công ty. – Chị Ba nói. – Em là thành viên, em có quyền coi sổ sách. Anh Hai biết hay không thì em cũng coi.
Chị Liên mở tủ.
Lam biết chuyện chị Ba về vì cả bến biết. Lương Thị Mỹ Châu, con gái thứ hai của ông Bảy, bốn mươi sáu tuổi, làm quản lý văn phòng Cự Phát trong Sài Gòn từ năm hai mươi lăm tuổi. Người trong bến kể chị Ba không bao giờ cười với tài xế, không bao giờ ứng lương trước cho ai, và chưa bao giờ tính sai một đồng. Có lần một ông phụ xe gian vé, ăn bớt bốn trăm nghìn tiền khách lên dọc đường, chị Ba đối sổ tới hai giờ sáng bắt cho bằng được. Ông Bảy kể chuyện đó cho cả bến nghe, kể bằng giọng vừa bực vừa hãnh diện: "Con nhỏ đó mà là con trai thì tau giao cho nó hết."
Câu "mà là con trai" thì chị Ba cũng nghe.
Lam bị đuổi việc từ sáng Chủ nhật, nhưng phòng cô thì tới ba mươi mốt mới hết hạn. Hai ngày nay cô không vô xưởng nữa. Cô làm việc khác. Cô mượn bà Tám Dưỡng chìa cái ki-ốt cơm cũ của má ở góc cổng, cái ki-ốt đã khóa từ năm hai nghìn mười hai. Mái tôn còn, vách tường gạch còn, cái quầy xây bằng xi măng còn, cái bếp củi trong góc vẫn còn đen muội. Bụi thì dày một lóng tay. Cô quét, cô lau, cô trèo lên nóc thay hai tấm tôn thủng, cô gọi thợ điện đi lại một đường dây. Cô không nói với ai cô dọn nó để làm gì.
Trưa thứ Ba, chị Ba đi xuống ăn cơm. Sạp bà Tám chỉ bán nước, cơm thì phải ra quán ngoài Quốc lộ. Chị Ba đứng ở cổng, nhìn quanh, rồi thấy Lam đang đứng trên cái thang tre, tay cầm cái mỏ hàn thiếc.
– Cô bị đuổi rồi mà còn ở đây?
– Phòng em tới ba mốt mới hết hạn chị.
– Còn cái ki-ốt này?
– Cái này không phải của công ty chị. Chú Bảy xây cho má em hồi xưa.
Chị Ba nhìn cái ki-ốt một lúc. Nhìn cái quầy xi măng, nhìn cái bếp củi.
– Tôi nhớ chỗ này. – Chị nói. – Hồi tôi học cấp ba, ba bắt tôi xuống đây ăn cơm mỗi lần tôi lên bến làm sổ. Tôi không chịu ăn.
Lam không biết trả lời sao, nên cô không trả lời.
– Xe chín cô ghi bệnh như vậy là thiệt? – Chị Ba hỏi.
– Thiệt.
– Anh Hai nói cô viết bậy cho Đại Phong trừ tiền.
– Chị cho người kiểm lại xe chín. Kiểm ở đâu cũng được.
Chị Ba gật đầu chậm. Chị đứng thêm một lúc dưới nắng trưa, cái nắng giữa tháng Ba ở vùng này đã gắt như tháng Năm, rồi nói một câu mà Lam phải nghĩ lại mấy lần mới hiểu.
– Tôi không ưa cô. – Chị Ba nói. – Nói thẳng vậy cho dễ làm việc. Nhưng tôi ưa người ghi số thật.
Rồi chị đi ra quán.
Hai ngày tiếp theo, đèn trên phòng kế toán sáng tới mười một, mười hai giờ đêm.
Lam đứng dưới bãi nhìn lên, thấy bóng chị Ba ngồi thẳng lưng trước cái laptop, bóng chị Liên đi tới đi lui giữa cái tủ và cái bàn. Có lúc hai cái bóng chụm vào nhau trước một tờ giấy, rồi tách ra.
Chiều thứ Tư, anh Khải xe 02 lò dò ra ki-ốt, ngó trước ngó sau rồi mới ngồi xuống cái bậc xi măng.
– Út, xe mười ba cái lốp phù hôm trước, anh Lực chưa cho thay. Ảnh nói còn chạy được, đợi hết tháng thay luôn một cặp cho rẻ. Đêm nay xe mười ba chạy, thằng Toàn lái. Nó sợ quá, nhờ anh hỏi em.
Lam leo xuống thang.
– Cục phù đó lớn cỡ nào anh?
– Hôm qua bằng đồng xu. Sáng nay bằng cái nắp chai.
– Vậy là bố lốp đứt rồi. Chạy tải nặng trên đèo mà nổ lốp sau thì xe văng đuôi. – Cô lau tay. – Anh nói thằng Toàn đảo cái lốp dự phòng lên, đừng chờ ai. Lốp dự phòng xe mười ba em mới thay tháng Giêng, còn tốt. Có ai hỏi thì nói em biểu.
– Em bị đuổi rồi mà Út.
– Thì nói con nhỏ bị đuổi biểu.
Anh Khải cười, cái cười méo xệch, rồi đứng dậy đi. Tối đó xe mười ba xuất bến với cái lốp dự phòng ở bánh sau bên phải. Lực không để ý. Cái lốp phù tháo ra nằm lăn lóc ở góc xưởng, cục phù trên hông đã to bằng nắm tay.
Sáng thứ Năm, chị Liên xuống sạp bà Tám uống trà, ngồi cạnh Lam, mắt đỏ vì thức.
– Chị Ba giỏi lắm. – Chị Liên nói nhỏ. – Coi sổ còn kỹ hơn thuế. Mười năm sổ mà chị Ba đọc như đọc báo.
– Chị Ba thấy gì chị?
Chị Liên khuấy ly trà, khuấy mãi.
– Thấy ba cái. – Chị nói. – Một cái là của anh Hai. Tạm ứng giám đốc, từ năm hai mốt tới giờ, một tỷ hai, chưa hoàn. Chứng từ thì có, anh Hai ký nhận đàng hoàng, nhưng chưa hoàn. Còn có mấy khoản phí tư vấn trả cho một công ty trên tỉnh, cái công ty đó chị Ba tra ra thì người đứng tên là anh Lực.
Lam không nói gì.
– Cái thứ hai. – Chị Liên tiếp. – Mỗi tháng ba triệu, "chi khác", không chứng từ. Từ năm hai nghìn lẻ ba, từ cái tháng đầu tiên có công ty, tới tháng Hai năm nay. Chị Ba hỏi chị tiền đó đi đâu.
– Đi đâu chị?
– Chị gửi bưu điện. – Chị Liên nói, còn nhỏ hơn. – Mỗi tháng, ông đưa tiền mặt, chị ra bưu điện gửi vô cho một ông tên Lộc, ở dưới Ô Loan, Phú Yên cũ. Hai mươi ba năm. Chị không biết ông Lộc là ai. Ông Bảy dặn đừng hỏi. Chị cũng không hỏi. Mà ông nói khoản này có từ trước khi chị vô làm, có từ năm chín mấy.
– Chị nói với chị Ba vậy?
– Chị nói chị gửi cho một người ông Bảy giúp. Chị không nói tên.
Lam xoay cái ly trà trên bàn gỗ. Ba triệu mỗi tháng, hai mươi ba năm. Cô nhẩm. Hơn tám trăm triệu. Một ông Lộc ở dưới Ô Loan.
– Còn cái thứ ba chị?
Chị Liên ngưng khuấy. Chị nhìn Lam, lần này nhìn thẳng.
– Cái thứ ba thì em biết rồi.
Cả hai cùng im. Bà Tám ở trong sạp bật cái đài nhỏ, đài đang phát cải lương, giọng một kép hát nam ngân dài một câu vọng cổ, rè rè lẫn tiếng xe ngoài đường.
– Chị Ba thấy tiền thuê mặt bằng. – Chị Liên nói. – Mỗi năm một trăm tám chục triệu, từ tháng Bảy năm mười sáu. Chi tiền mặt, người ký nhận là ông Bảy, ghi "nhận thay bên cho thuê theo giấy ủy quyền". Bản hợp đồng thì ông khóa trong tủ riêng, chị không có chìa. Chị Ba hỏi ba chỉ nhận tiền thuê đất thay cho ai. Chị không nói. Chị Ba hỏi vậy trước năm mười sáu đất bến của ai, chị nói của ông. Chị Ba hỏi vậy năm mười sáu ông sang tên cho ai mà giờ công ty phải đi thuê. Chị nói chị không có quyền nói.
– Chị Ba có giận chị không?
– Không. Chị Ba không giận ai hết. – Chị Liên cười, nụ cười mệt mỏi. – Chị Ba ghi lại câu chị nói, ghi đàng hoàng vô cái tập giấy của chỉ, rồi gạch dưới. Chị thấy còn sợ hơn là bị giận.
Chiều thứ Năm, chị Ba đi ra khỏi bến lúc ba giờ, đi bằng xe ôm, về nhà Hùng Vương. Lam biết vì chú xe ôm là người quen của bà Tám, chở xong quay về kể lại liền.
– Chỉ ngồi với bà Bảy trong phòng khách cả tiếng. – Chú xe ôm nói, hạ giọng như kể chuyện bí mật quốc gia. – Tui ngồi ngoài cổng chờ, không nghe gì. Nhưng lúc ra chỉ đi nhanh lắm. Mặt chỉ như người vừa bị ai tạt nước.
Bảy giờ tối, Lam đang ngồi trong phòng, dán lại cái đế dép bằng keo dán sắt, thì có tiếng gõ cửa.
Gõ ba tiếng, đều, cách nhau đúng một nhịp. Không phải kiểu gõ của tài xế. Tài xế đập cửa bằng lòng bàn tay, hoặc không gõ, đứng ngoài kêu "Út ơi".
Cô mở cửa. Chị Ba đứng đó, áo sơ mi trắng, quần tây xám, tay cầm cái điện thoại, không cầm túi xách. Sau lưng chị, dãy đèn bảo vệ vàng vọt soi lên cái bãi đậu trống, mấy chiếc xe chạy đêm nay đã xuất bến hết.
– Tôi vô được không?
Lam tránh qua một bên. Chị Ba bước vào, đứng giữa phòng. Căn phòng chỉ có cái giường sắt, cái tủ quần áo nhựa, cái hộp đồ nghề màu đỏ, cái quạt đứng, cái bàn nhỏ có một ấm nước. Trên tường không có tấm ảnh nào. Chị Ba nhìn quanh. Chị không ngồi.
– Tôi đi hỏi má. – Chị Ba nói, không vòng vo. – Tôi hỏi má, đất bến năm hai nghìn mười sáu ba sang tên cho ai. Má không nói. Tôi hỏi má có biết không. Má nói biết. Tôi hỏi vậy ai. Má nói một câu.
Chị dừng lại. Lam đứng ở cửa, tay còn dính keo.
– Má nói: hỏi con Lam.
Ngoài kia, có tiếng xe tải hãm phanh trên Quốc lộ, tiếng hơi xả dài.
– Bây giờ tôi hỏi cô. – Chị Ba nói. – Bến này, công ty đang thuê của ai?
Lam nhìn chị. Cô thấy cái quai hàm của chị Ba bạnh ra một chút, giống hệt cái quai hàm của ông Bảy mỗi lần ông chuẩn bị chửi một ai đó. Cô thấy hai bàn tay chị cầm điện thoại siết lại tới trắng các đốt ngón. Cô nghĩ: chị Ba đã biết rồi. Chị Ba chỉ cần nghe nó thành tiếng.
– Chị chờ tới thứ Năm tuần sau. – Lam nói. – Chú Bảy dặn vậy.
– Chờ cái gì?
– Ngày hai mốt của chú. Chú dặn tới ngày đó, có đủ mặt cả nhà, có cô Bảy ngồi đó, em mới được nói. Em hứa với chú rồi chị.
Chị Ba nhìn cô lâu. Lâu tới mức cái quạt đứng quay qua quay lại ba vòng, mỗi vòng thổi cái tóc mái của chị bay lên rồi rớt xuống.
– Cô hứa với ba tôi. – Chị nói, giọng không có chút gì là hỏi.
– Dạ.
– Hứa hồi nào?
– Năm em mười chín tuổi.
Chị Ba quay đi. Tới cửa, chị dừng lại, tay vịn khung cửa.
– Thứ Năm tuần sau. – Chị nói. – Tôi sẽ ngồi đó. Cô nhớ mang theo hết. Đừng để tôi phải đi tìm cái gì.
Chị đi ra bãi. Lam đứng ở cửa nhìn theo cái lưng thẳng tắp của chị đi qua dãy đèn bảo vệ, qua cái vòi nước, qua cửa phòng điều hành, rồi khuất sau góc nhà. Lúc đó cô mới nhận ra chị Ba đi mà không hề nhìn lại, đúng y như cái dáng ông Bảy đi ra khỏi ki-ốt cơm của má mỗi chiều, mười mấy năm trước.
— Hết chương 7 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe