Chương 6: Bốn cái tên ở khúc cua
Vĩnh lái. Lam ngồi ghế phụ, ôm trên đùi cái thùng nhựa đựng hai bộ lọc dầu tinh, một bộ lọc tách nước, hai can dầu sạch năm lít, cuộn ống, hộp cổ dê, và cái đèn pin đội đầu.
Chiếc bán tải ra khỏi cổng bến lúc mười giờ hai mươi tối. Quốc lộ giờ đó chỉ còn xe tải và xe khách. Vĩnh chạy nhanh mà êm, kiểu người lái xe khách lâu năm quen giữ cho người ngồi sau khỏi tỉnh giấc. Anh không hỏi gì suốt ba chục cây số đầu. Tới Đức Phổ, khi đèn đường thưa dần và hai bên chỉ còn ruộng muối với rặng dương đen thẫm, anh mới nói.
– Anh Lực biết Út đi không?
– Không. Em ghi tên vô giấy mượn xe rồi.
– Anh Hai biết thì…
– Em biết.
Vĩnh gật đầu. Anh mở ngăn để đồ, lấy ra một gói kẹo gừng, bóc một viên đưa cho cô. Lam ngậm. Vị cay xè lên mũi, kéo cô ra khỏi cái mệt của một ngày rửa năm chiếc gầm xe.
Mười hai giờ, qua đèo Bình Đê. Mưa bắt đầu lâm râm, loại mưa xuân muộn vùng này, không đủ ướt áo mà đủ làm mặt đường bóng loáng. Một giờ kém mười, qua Quy Nhơn, Vĩnh đổ dầu ở một cây xăng ven đường, Lam xuống mua hai ly cà phê nóng trong máy bán tự động. Một giờ bốn mươi, xe bắt đầu leo Cù Mông.
Đèo Cù Mông hồi trước là ranh giữa Bình Định với Phú Yên, giờ nằm giữa hai tỉnh khác tên, nhưng con đèo thì không đổi. Đường cũ uốn qua lưng núi, một bên là vách đá, một bên là thung lũng tối om. Từ hồi có hầm xuyên núi, xe lớn phần đông chui hầm, nhưng vẫn còn mấy ông tài già quen tay lái đường đèo cũ, chạy theo thói. Anh Đạt là một trong số đó.
Họ thấy đèn khẩn cấp của xe 11 nhấp nháy từ xa, cam vàng, cam vàng, như một con đom đóm khổng lồ đậu bên sườn núi.
Anh Đạt đã làm đúng lời cô dặn. Xe nép sát vách đá, biển báo tam giác đặt sau đuôi năm chục mét, một cây đèn pin dựng trên mặt đường soi về phía sau. Thằng Sang đứng cạnh biển báo, mặc áo mưa, run cầm cập. Trên xe, đèn trong khoang bật mờ, bốn chục cái đầu ngó ra cửa kính khi chiếc bán tải dừng lại.
– Út! – Anh Đạt nhảy xuống. – Trời đất, tưởng em nói chơi.
– Mở nắp máy đi anh.
Máy xe giường nằm nằm ở đuôi. Lam đội đèn pin lên trán, chui vào khoang máy. Hơi máy đã nguội, mùi dầu sống nồng nặc. Cô tìm cái lọc tách nước, mở van xả. Không ra nước nữa, chỉ ra dầu đục như nước vo gạo. Cô tháo cái lọc tinh ra. Nặng tay. Cô dốc ngược nó vào cái khay nhựa Vĩnh cầm, dầu chảy ra lẫn nước, đọng thành những hạt tròn dưới đáy khay, lóng lánh dưới ánh đèn pin.
– Đổ dầu ở đâu anh Đạt?
– Cây ở Mộ Đức. Chỗ quen. Chiều nay anh Lực gọi bảo đổ chỗ đó, nói chỗ đó giờ có hợp đồng với công ty, rẻ hơn hai trăm một lít.
Lam không nói gì. Cô lắp lọc mới, đổ đầy dầu sạch vào lọc trước khi vặn vô, cho bớt gió. Rồi cô bắt đầu xả gió đường dầu. Bóp bơm tay. Nới ốc xả trên đầu lọc. Bóp tiếp. Mưa rơi xuống lưng cô qua cái khe nắp máy. Vĩnh đứng sau lưng cô, giơ cái áo mưa của mình ra che, che được cái đầu cô thì ướt cái lưng anh.
Khách trên xe bắt đầu xuống. Anh Đạt cản không nổi. Mấy người đàn ông đứng hút thuốc dưới mái hiên xe, nhìn một con nhỏ mặc đồ xanh lá cái đầu sáng đèn đang chổng mông trong khoang máy.
– Con gái mà sửa xe được hả? – Có người hỏi.
– Không được thì nó lên đây làm gì cha. – Người khác đáp.
Một bà già quấn khăn len, chắc là mẹ của một trong hai cô bầu, cầm ra cho Lam một cái bánh ít lá gai còn trong bịch ni lông. Lam lắc đầu, hai tay dính dầu. Bà già đứng chờ. Cuối cùng Vĩnh cầm giùm, bỏ túi áo.
Hai giờ hai mươi, đường dầu từ bình tới bơm đã sạch gió. Lam leo lên ca bin, bảo anh Đạt bật khóa điện, chưa đề, để bơm điện trong bình mồi dầu hai lần. Rồi cô chui lại xuống, nới con ốc xả gió trên đầu bơm cao áp, bảo anh Đạt đề một nhát.
Máy quay. Quay. Dầu xì ra ở con ốc cô nới, có bọt. Cô siết lại. Đề nhát nữa. Máy giật, nổ một tiếng, khục, tắt.
– Lần nữa anh.
Máy quay, khục khục, rồi nổ. Nổ không đều, ba máy rồi bốn máy, khói trắng phụt ra đuôi xe mù mịt trong mưa. Lam đứng sát khoang máy, nghe. Tiếng nổ đều dần, đều dần, cho tới khi chỉ còn một tiếng ầm ì thấp, đều như hơi thở người ngủ.
Hai giờ bốn mươi.
Có người vỗ tay. Rồi nhiều người vỗ tay. Mấy ông đàn ông đứng dưới hiên xe vỗ to nhất. Bà già khăn len làm dấu thánh giá. Ông già đi khám tim ngồi ở cửa sổ giường tầng dưới, không vỗ tay, hai tay còn ôm cái túi thuốc, chỉ gật gật cái đầu.
Lam đóng nắp máy. Cô quay sang anh Đạt.
– Anh chạy chậm tới Tuy Hòa. Tới cây xăng lớn thì dừng xả lọc tách nước một lần nữa. Tới Nha Trang dừng xả lần nữa. Dầu trong bình anh còn nhiễm nước, phải xả dọc đường. Vô tới Sài Gòn thì xả sạch bình. Em gửi theo anh cái lọc dự phòng.
– Út… – Anh Đạt nắm cánh tay cô, không để ý tay cô đầy dầu. – Anh không biết nói gì.
– Anh nói với bên bán dầu ở Mộ Đức là xe Cự Phát không đổ ở đó nữa. Vậy là được.
Anh Đạt leo lên ca bin, rồi thò đầu ra cửa sổ, ngó cái khúc cua phía trên.
– Khúc này xui lắm Út. Hồi xưa có chiếc xe khách lao xuống đây, nghe mấy ông già nói chết năm mạng. Em với Vĩnh đừng đậu sát vô đó.
Xe 11 lăn bánh lúc hai giờ năm mươi. Lam đứng bên lề nhìn đèn hậu đỏ khuất dần sau khúc cua, nghe tiếng máy nhỏ dần trong tiếng mưa, cho tới khi chỉ còn tiếng mưa.
Vĩnh không chịu lái về liền. Anh nói mưa trơn, hai người mệt, chạy đèo ban đêm là ngu. Anh tấp chiếc bán tải vào một khoảng trống bên đường, cách chỗ xe 11 nằm chừng hai trăm mét, chỗ có cái mái tôn của ai dựng làm trạm dừng chân bỏ hoang. Hai người ngả ghế ngủ. Lam tưởng mình không ngủ được. Cô nhắm mắt, mở mắt ra thì trời đã xám.
Năm giờ rưỡi sáng. Mưa tạnh. Núi xanh rì ướt sũng, sương bốc lên từ thung lũng thành từng vạt trắng như khói nhang. Vĩnh vẫn còn ngủ, cằm gục lên ngực, cái bánh ít lá gai của bà già khăn len vẫn còn nằm trong túi áo anh.
Lam mở cửa bước xuống. Không khí lạnh, có mùi lá mục và mùi đất đỏ. Cô đi bộ dọc lề đường, giãn lưng, tới cái khúc cua ngay phía trên chỗ mái tôn.
Ở mép khúc cua, sát cái lan can thép mới sơn vạch trắng đỏ, có một cái miếu nhỏ.
Miếu xây bằng xi măng, cao ngang ngực người, mái lợp ngói đỏ đã bạc, bên trong đặt một bát nhang sành, mấy cái chén nước nhỏ, một bình hoa cúc vàng còn tươi. Kế bên miếu là một tấm bia đá mài, đứng nghiêng nghiêng như đã bị lún một bên chân. Chữ khắc trên bia sơn đen, nhiều chỗ đã tróc.
"Nơi tưởng niệm các nạn nhân vụ tai nạn đêm 14 rạng 15 tháng 8 năm 1996."
Dưới đó là bốn cái tên.
Nguyễn Văn Tài, hai mươi hai tuổi. Lê Thị Bông, bốn mươi mốt tuổi. Phạm Hữu Nghĩa, ba mươi lăm tuổi. Đoàn Văn Lành, năm mươi tám tuổi.
Lam đọc đi đọc lại. Cô không biết ai trong số này. Năm chín mươi sáu, cô còn chưa ra đời. Nhưng có cái gì đó ở con số tám, con số chín mươi sáu, làm cô đứng yên lâu hơn cô định.
Một bóng người đi lên từ con đường mòn dưới chân lan can. Một bà già, nón lá, áo bà ba nâu, tay xách một cái giỏ nhựa và một cây chổi chà. Bà già lắm, lưng còng gần chín mươi độ, đi mà như bò. Bà không nhìn Lam. Bà đặt giỏ xuống, quét lá trước miếu, lấy cái khăn trong giỏ lau mấy cái chén nước, đổ nước cũ đi, rót nước mới từ một cái chai nhựa. Bà thắp ba cây nhang. Cắm vào bát.
Rồi bà rút thêm một cây nhang, châm, cắm riêng một cây vào chân tấm bia, ngay dưới cái tên Nguyễn Văn Tài.
– Dạ, bà. – Lam lên tiếng. – Con hỏi bà chút. Người ta nói vụ đó chết năm người. Sao ở đây khắc có bốn?
Bà già ngẩng lên. Mặt bà nhăn như vỏ trái táo khô, hai con mắt đục, mí sụp xuống gần kín. Bà nhìn Lam chằm chằm một hồi, như nhìn một thứ gì lạ ở đâu trôi vô.
– Bốn đứa. – Bà nói, giọng khàn, nằng nặng giọng người bên kia đèo. – Thằng thứ năm không đáng có tên.
Bà cúi xuống nhặt cây chổi, quét tiếp, không nói thêm một chữ.
Lam đứng đó cho tới khi Vĩnh bấm còi gọi. Cô quay về xe, mà trong đầu cô cứ thấy cái khoảng đá trống dưới cái tên thứ tư, cái khoảng trống mài nhẵn, vừa đủ cho một cái tên nữa.
Chín giờ sáng Chủ nhật, chiếc bán tải về tới bến.
Anh Hai Hưng đứng chờ ở cửa phòng điều hành. Lực đứng bên cạnh. Chị Trinh ngồi trong chiếc bảy chỗ đậu chắn ngang lối vào xưởng, cửa kính hạ xuống một nửa.
Lam bước xuống xe. Vĩnh bước xuống theo, định nói gì đó, Lam đưa tay ngăn.
– Ai cho mày lấy xe công ty? – Anh Hai hỏi.
– Em ghi tên vô giấy mượn xe rồi anh Hai. Xe 11 chết máy trên Cù Mông, bốn mươi mốt người, em lên sửa, xe chạy rồi.
– Tao không hỏi xe 11. Tao hỏi ai cho mày lấy xe.
– Không ai cho. Em tự lấy.
– Anh Lực đã nói chờ cứu hộ. Mày qua mặt quản đốc, tự ý lấy tài sản công ty chạy hai trăm cây số ban đêm. Mày đụng vô xe 11 mà dọc đường nó hư thêm, khách có chuyện gì, ai chịu? Mày chịu nổi không?
– Dạ, không có chuyện gì đâu anh. Em dặn anh Đạt rồi.
– Mày dặn! – Anh Hai bật cười. – Mày là cái gì mà dặn?
Anh không chờ cô trả lời.
– Từ hôm nay mày nghỉ. Không làm ở công ty nữa. Lương tháng này chị Liên tính cho đủ. Chìa xe đưa đây.
Lam đưa chìa. Anh Hai không cầm, hất cằm cho Lực cầm.
– Anh Hai cho em giấy quyết định. – Lam nói.
– Mai có.
Cánh tài xế nằm bến đứng quanh bãi, sáu người, không ai lên tiếng. Chú Năm Trọng đứng ở góc phòng nghỉ thợ, điếu thuốc rê cháy gần tới ngón tay. Chú dập nó xuống bậc xi măng, dí mạnh, rồi quay mặt đi vào trong. Vĩnh đứng sau lưng Lam, hai tay nắm lại.
Lam đi về phòng mình. Đi ngang qua dãy phòng tài xế, cô đếm từng cánh cửa như mỗi ngày, cửa thứ nhất, thứ hai, thứ ba. Tới cửa phòng cuối, cô dừng lại.
Trước bậc cửa có ai đặt một gói cơm.
Gói lá chuối, vuông vức, còn ấm. Buộc bằng một sợi chỉ đỏ, thắt nơ một vòng, kiểu buộc của những người già đi chùa hay buộc gói xôi cúng. Không có giấy, không có tên.
Lam ngồi xuống bậc cửa, mở gói cơm ra. Cơm trắng, cá bống kho tiêu, mấy lát dưa leo. Cá bống kho kiểu Quảng Ngãi, kho thật khô, tiêu đen hạt to, đúng cái kiểu má cô từng kho. Cô ăn hết, từng hạt cơm một, rồi gấp miếng lá chuối lại, cuộn sợi chỉ đỏ quanh ngón tay, cất vào túi áo ngực.
— Hết chương 6 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe