AI Truyện
Chiếc xe số bảy trong di chúc

🏠 Gia đình & vả mặt

Con của Tạ Văn Đức

Chiếc xe số bảy trong di chúc · Chương 19/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 12 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 19: Con của Tạ Văn Đức

Sáu giờ sáng thứ Sáu, Lam dựng xe máy trước cổng sắt nhà Hùng Vương, bấm chuông một lần, rồi đứng chờ hai mươi phút mà không bấm thêm lần nào.

Cánh cổng mở ra là anh Tư Phát. Anh mặc nguyên bộ đồ hôm qua, mắt sưng húp, tóc bết, cầm một ly cà phê đen chưa uống ngụm nào.

– Út.

– Em muốn gặp cô Bảy, anh Tư.

Anh Tư ngoái vô trong nhà. Cửa phòng khách mở, bàn thờ còn nguyên mâm cúng hôm qua, bình hoa huệ đã rũ. Cầu thang lên lầu tối.

– Má dậy từ bốn giờ. – Anh nói. – Má tụng kinh trong buồng. Để tao vô hỏi.

Anh vô. Lam đứng ngoài cổng, nghe tiếng rao bánh mì lẫn tiếng xe máy chở học trò đi học.

Năm phút sau anh Tư ra.

– Má nói con về đi. – Anh nói, lặp lại đúng giọng má anh, chậm, đều. – Má nói chưa tới lúc.

– Dạ.

– Út. – Anh Tư nắm lấy song cổng, như sợ nó tự đóng lại. – Hôm qua má ra ki-ốt gặp mày hả? Thằng xe ôm nói. Má nói gì với mày?

Lam nhìn anh. Cô nghĩ tới cái câu bà Bảy nói đúng hai lần, dưới ánh đèn đường, rồi quay đi. Cô nghĩ, nếu bà muốn các con bà biết thì bà đã nói với các con bà.

– Cô Bảy hỏi thăm em thôi, anh Tư.

Anh Tư không tin. Nhưng anh cũng không hỏi nữa.

Về tới bến thì đã bảy giờ. Cánh tài xế nằm bến đang ngồi chỗ quen trước phòng nghỉ thợ, ly cà phê bà Tám bưng vô đặt trên mấy cái thùng nhớt úp ngược. Lam đi ngang qua. Câu chuyện đang nói dừng lại giữa chừng, rồi một người nói tiếp, như nói với ly cà phê của mình.

– Đất đó là đất máu. Tao nói vậy thôi.

Người nói là thằng Quý, tài phụ xe 06, mới vô làm năm ngoái. Hai mươi sáu tuổi, ít hơn Lam ba tuổi.

– Mày nói cái gì? – Anh Đạt xe 11 đặt ly xuống.

– Em nói thiệt mà anh. Ông già nó làm chết năm người. Giờ con nó cầm cái bến mình đang ở. Ông Bảy cho nó cái bến thì cũng như đem tiền đền mạng mà…

– Thằng Quý. – Anh Đạt đứng dậy. – Tối mười bốn tháng Ba, tao nằm trên đèo Cù Mông với bốn mươi mốt cái mạng người. Ai lên? Mày lên hả?

Thằng Quý ngậm miệng. Không ai nói gì thêm. Lam đi tiếp về ki-ốt, không quay lại. Sau lưng cô, chú Năm Trọng ho khan mấy cái, rồi im.

Tám giờ, bà Tám Dưỡng mở sạp. Chín giờ, có một ông khách lạ ghé uống nước, đi chiếc xe máy chở hai bao mía. Ông ngồi trên cái ghế nhựa thấp, nhìn qua cổng, nhìn cái ki-ốt cơm, rồi hỏi bà Tám bằng cái giọng người ta hỏi đường.

– Cái con nhỏ bữa giờ trên mạng, con thằng tài xế đó, nó ở đây hả bà?

Bà Tám chưa kịp trả lời thì Lam đã đứng dậy khỏi bậc ki-ốt. Cô đi qua cổng, tới đứng trước mặt ông khách.

– Dạ, con đây chú.

Ông khách ngước lên, ngượng, cái ly trà đá khựng lại giữa đường lên miệng.

– Tui… tui hỏi chơi thôi cô.

– Dạ, không sao. – Lam nói. – Con là Tạ Thị Lam. Con của ông Tạ Văn Đức. Chú cần gì thì cứ hỏi con.

Ông khách không hỏi gì nữa. Ông uống vội ly nước, để tiền lên bàn, dắt xe ra Quốc lộ.

– Con nói vậy làm chi. – Bà Tám nói. – Thiên hạ đang đói chuyện.

– Thì cho thiên hạ ăn một lần cho no, bà.

Cô quay về ki-ốt. Nói xong cô mới biết là tay mình run. Đó là lần đầu tiên trong đời cô nói thành tiếng cái tên đó, ghép với chữ "con của". Hai mươi chín năm, cô chỉ đọc nó trên giấy.

Chiều thứ Sáu, luật sư Thư xuống bến như đã hẹn. Chị không mặc vest, xách theo một túi bánh bao, đặt lên đùi Lam, chờ cô ăn hết nửa cái mới hỏi.

– Em có muốn nói gì với chị không?

Lam gấp tờ giấy gói bánh lại, gấp tới khi không gấp được nữa.

– Tối qua cô Bảy ra đây. – Cô nói. – Mười một giờ đêm. Cô đứng ngay chỗ chị đang ngồi, không vô. Cô nói một câu. Cô nói hai lần.

– Câu gì?

– "Ổng biết. Ổng biết từ trước khi con ra đời."

Thư im một lúc lâu.

– Em hiểu câu đó nghĩa là gì không? – Thư hỏi. – Không phải nghĩa với em. Nghĩa với cái đơn kiện.

– Em hiểu một chút.

– Chị nói cho rõ. – Thư chồm người tới, hạ giọng, dù chung quanh không có ai. – Đơn của anh Hưng dựa trên một điều: ông Cự tin em là con ông, và ông tin sai. Nếu ông biết em không phải con ông, biết từ trước khi em sinh ra, thì ông không tin sai cái gì hết. Ông cho đất cho một người ông biết rõ người đó là ai. Không ai lừa được ông. Cái đơn đó đứng trên một cái chân, và câu của bà Hồng là cái cưa.

– Dạ.

– Nhưng bà nói với em lúc nửa đêm, không ai nghe, thì nó chỉ là một câu em kể lại. Mà em là bị đơn. Em kể thì ai tin.

– Em không đem cô Bảy ra tòa đâu chị.

– Chị không bảo em đem. – Thư nói. – Chị bảo em giữ trong đầu. Chuyện bà có nói hay không là chuyện của bà.

Lam hỏi một câu cô đã giữ từ tối qua.

– Chị Thư. Chú Bảy biết em là con anh Đức. Vậy sao chú nuôi em? Sao chú cho em đất? Người ta nói chú làm vậy vì thương má em. Mà bà Tám nói chú với má em không phải vậy. Mà chú cũng biết em không phải con chú.

Thư nhìn cô rất lâu.

– Chị là luật sư. – Chị nói. – Chị chỉ trả lời được những câu có giấy tờ. Câu này không có giấy tờ.

Tối thứ Bảy, Lam lên giường lúc tám giờ, đặt báo thức lúc hai giờ sáng.

Hai giờ mười, cô dắt xe máy ra khỏi cổng bến. Cô đổ đầy bình xăng ở cây xăng đầu cầu, rồi chạy về phía Nam.

Cô chạy sát lề phải, đèn pha xe tải phía sau rọi bóng cô dài ngoằng lên mặt đường. Qua Đức Phổ. Qua Sa Huỳnh, mùi muối và mùi biển thổi xộc vào mũi, bên trái là bóng đen của rặng phi lao, phía sau rặng phi lao là cái làng chài nơi cô Sen đang ngủ. Qua đèo Bình Đê, đường lên dốc quanh co, gió núi lạnh xuyên qua lớp áo khoác. Qua Quy Nhơn lúc trời bắt đầu chuyển màu xám tro ở phía biển.

Sáu giờ kém mười lăm, cô leo lên Cù Mông bằng con đường đèo cũ.

Con đèo vắng tanh. Núi hai bên xanh rì, nắng sớm rọi xiên qua những vạt sương còn vướng trên ngọn cây. Cô dừng xe ở khoảng trống có cái mái tôn bỏ hoang, chỗ sáu tuần trước cô với Vĩnh đã ngủ gục trên chiếc bán tải, rồi đi bộ lên khúc cua.

Cái miếu nhỏ vẫn vậy. Bình cúc vàng đã được thay bằng một bình cúc trắng. Tấm bia đá vẫn đứng nghiêng nghiêng, vẫn bốn cái tên, vẫn cái khoảng đá trống mài nhẵn bên dưới.

Bà già lưng còng đang ngồi nghỉ trên cái ghế đá cạnh miếu, cây chổi chà dựng bên chân. Thấy Lam, bà không nhúc nhích, chỉ nheo hai con mắt đục lại.

– Mày là con nhỏ bữa trước. – Bà nói. – Con nhỏ sửa xe.

– Dạ. Bà nhớ con.

– Có ai lên đây đâu mà không nhớ.

Lam đứng cách bà mấy bước.

– Dạ, con hỏi bà. Bà tên chi?

– Hỏi chi?

– Con muốn biết tên người con đang nói chuyện.

Bà già nhìn cô thêm một lúc.

– Ngộ. Hồ Thị Ngộ. – Bà hất cằm về phía tấm bia. – Thằng Tài là con tao. Thằng đầu. Năm đó nó hai mươi hai, ra Quy Nhơn đón xe vô Sài Gòn làm thợ đóng giày. Nó đi chuyến đầu. Chuyến đầu tiên trong đời nó đi xa.

Lam nhìn cái tên Nguyễn Văn Tài khắc trên đá. Hai mươi hai tuổi. Cái cây nhang cắm riêng dưới tên ấy đã cháy gần hết, tàn nhang cong xuống như một cái móc câu.

– Bà, ba chục năm bà lên đây quét hả bà?

– Sáng nào cũng lên. Nhà tao ở dưới chân đèo, bên kia. Tao đi bộ lên. Hồi trước đi một tiếng, giờ đi hai tiếng.

– Cái bia này ai làm bà?

– Tao làm. – Bà nói, giọng như cục đá. – Ông chủ xe muốn trả tiền làm, tao không cho. Tao bán con heo nái. Mấy nhà kia góp thêm. Thằng thợ đá hỏi khắc mấy tên, tao nói bốn. Nó nói khúc đá còn dư một khúc dưới. Tao nói để đó.

Lam đứng im. Gió từ thung lũng thổi lên, làm mấy cây nhang trong bát lóe đỏ.

Cô bước tới trước tấm bia một bước. Rồi cô quỳ xuống, quỳ trên nền xi măng còn ướt sương, hai tay đặt lên đùi, như hôm ngày hai mươi mốt cô quỳ trước bàn thờ ông Bảy.

– Bà Ngộ. – Cô nói. – Con là con của Tạ Văn Đức.

Bà Ngộ không động đậy. Một nhịp. Hai nhịp. Rồi bà nghiêng người về phía trước, chống tay lên cán chổi, và nhổ.

Bãi nước bọt rơi xuống nền xi măng ngay trước đầu gối Lam, cách chừng một gang tay.

Lam không lùi. Cô không lau. Cô quỳ yên đó.

– Con của thằng Đức. – Bà Ngộ nói. Giọng bà không to, nhưng khàn tới mức như có cát trong cổ. – Ba chục năm. Ba chục năm nay tao chờ coi có đứa nào nhà nó lên đây không. Không có đứa nào hết. Giờ mày lên. Mày lên làm chi? Mày lên xin cái gì?

– Con không xin gì bà. Con lên cho bà biết mặt con.

– Biết mặt mày làm chi?

– Để bà có chỗ mà nhổ.

Bà Ngộ nhìn cô trân trân. Lam thấy cái cằm nhăn nheo của bà rung lên, rung lên, rồi bà quay mặt đi, nhìn xuống thung lũng.

– Má mày. – Bà nói, sau một lúc rất lâu. – Năm đó tao lên tận cái bến ngoài Quảng Ngãi. Tao đứng trước cái lều bạt của nó chửi cả buổi. Nó quỳ như mày bây giờ. Tao nhổ vô mặt nó. – Bà dừng lại. – Nó cũng không lau.

Lam cúi đầu xuống. Cô thấy giọt nước mắt của mình rơi xuống nền xi măng, cạnh cái vệt nước bọt, hai cái vệt nằm cạnh nhau như hai giọt dầu.

– Đứng dậy. – Bà Ngộ nói. – Đừng quỳ ở đây. Đây là chỗ của mấy đứa nó. Mày quỳ đây coi chướng.

Lam đứng dậy. Đầu gối cô ướt và lạnh.

Bà Ngộ cầm cây chổi lên, chống xuống đất, đứng dậy một cách khó nhọc, cái lưng còng không thẳng được. Bà xách cái giỏ nhựa, bước xuống con đường mòn phía dưới lan can. Đi được mấy bước, bà dừng lại, không quay đầu.

– Mỗi năm, tới đêm mười bốn tháng Tám, có một người lên ngồi cái ghế đá này tới sáng. – Bà nói. – Ba chục năm, năm nào cũng lên. Không thắp nhang, không khấn. Chỉ ngồi. Sáng tao lên quét thì ổng đi rồi, còn để lại mấy cái tàn thuốc.

– Ai vậy bà?

– Ông chủ xe. – Bà Ngộ nói. – Ông Bảy gì đó của mày. Năm nay ổng chết rồi. Tháng Tám này chắc không ai lên.

Bà đi xuống. Cái nón lá của bà nhấp nhô giữa mấy bụi lau, rồi khuất.

Lam đứng lại trước tấm bia một mình. Cô nhìn cái ghế đá. Một cái ghế xi măng mài, loại người ta hay đặt ở công viên, đặt sát lan can, quay mặt ra thung lũng. Dưới chân ghế, giữa mấy kẽ đá, cô thấy một mẩu giấy vấn thuốc rê đã mục, bạc trắng vì mưa nắng.

Cô cúi xuống nhặt nó lên. Nó vụn ra giữa hai ngón tay.

Ba mươi năm. Đêm mười bốn tháng Tám. Một người ngồi đây tới sáng, không thắp nhang, không khấn. Một người đã gãy xương sườn trên chiếc xe ấy, đã đền tiền cho từng nhà, đã kéo cái xác xe về hàn kín trong một cái kho. Người đó đã đón một người đàn bà góa bụng bầu về bán cơm ở cổng bến của mình, đã đứng ở ngưỡng cửa ki-ốt mười sáu năm mà không bước qua. Đã biết đứa bé trong bụng người đàn bà đó là con ai.

Người ta không làm những việc đó vì thương một người tài xế ngủ gật đã giết khách của mình.

Lam đứng ở mép lan can thép, nhìn xuống. Thung lũng dưới kia sâu hút, cây cối um tùm, không còn dấu vết gì của ba mươi năm trước.

Cô rút điện thoại ra. Sóng chập chờn, một vạch, hai vạch. Cô bấm số.

– Lam hả? – Giọng Thư ngái ngủ. – Bảy giờ sáng Chủ nhật đó em.

– Chị Thư. Em đang ở Cù Mông.

Đầu dây bên kia im một nhịp. Rồi Lam nghe tiếng chăn sột soạt, tiếng chân xuống giường.

– Em nói đi.

Lam nhìn tấm bia. Nhìn cái khoảng đá trống bên dưới cái tên thứ tư, cái khúc đá dư mà một bà già bán con heo nái đã bảo người thợ cứ để đó.

– Em muốn biết đêm đó ai cầm lái.

— Hết chương 19 —

Mục lục Chiếc xe số bảy trong di chúc

  1. 1Máy còn nổ ở hầm số hai11 phút
  2. 2Xe tang chết máy trên cầu Bàu Giang11 phút đọc
  3. 3Ba mươi năm không có số bảy11 phút đọc
  4. 4Ông khách đi xe màu bạc10 phút đọc
  5. 5Bảng kê mười sáu chiếc xe10 phút đọc
  6. 6Bốn cái tên ở khúc cua11 phút đọc
  7. 7Những dòng chi khác10 phút đọc
  8. 8Một cái tên trên trích lục12 phút đọc
  9. 9Ngày hai mươi mốt11 phút đọc
  10. 10Bộ vest xám ở phường Cẩm Thành10 phút đọc
  11. 11Ki-ốt cơm ở góc cổng11 phút đọc
  12. 12Mối hàn ba mươi năm10 phút đọc
  13. 13Ghế tài lùi nấc cuối10 phút đọc
  14. 14Cô Sen ở làng chài10 phút đọc
  15. 15Bãi đậu không phải bến10 phút đọc
  16. 16Bà Tám Dưỡng kể9 phút đọc
  17. 17Đường ra Đà Nẵng10 phút đọc
  18. 18Không cùng một dòng máu10 phút đọc
  19. 19Con của Tạ Văn Đức12 phút đọc
  20. 20Xưởng Út Lam11 phút đọc
  21. 21Tờ cọc sáu tỷ11 phút đọc
  22. 22Ray ghế ở nấc cuối11 phút đọc
  23. 23Năm sào ruộng mặt đường11 phút đọc
  24. 24Người lơ xe ven đầm Ô Loan10 phút đọc
  25. 25Ba triệu mỗi tháng10 phút đọc
  26. 26Ghế số chín10 phút đọc
  27. 27Buổi hòa giải ở tòa11 phút đọc
  28. 28Quáng gà11 phút đọc
  29. 29Cuộc gọi lúc ba giờ sáng10 phút đọc
  30. 30Mười sáu chiếc xe đứng yên10 phút đọc
  31. 31Phần của má10 phút đọc
  32. 32Bàn tiệc Đại Phong10 phút đọc
  33. 33Đơn rút10 phút đọc
  34. 34Cái tên thứ năm10 phút đọc
  35. 35Xe số bảy lăn bánh10 phút đọc
  36. 36Giỗ đầu10 phút đọc

Về truyện này

Chiếc xe số bảy trong di chúc là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Khánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →