Chương 2: Xe tang chết máy trên cầu Bàu Giang
Năm giờ sáng Chủ nhật, trước giờ nhập quan, anh Hai Hưng tháo chiếc nhẫn mặt đá đỏ khỏi tay cha mình.
Anh làm việc đó nhanh, gọn, trong lúc ông thầy cúng còn đang sắp mấy xấp giấy vàng bạc và hai người của dịch vụ mai táng còn đứng ngoài hiên hút thuốc. Ngón tay ông Bảy đã cứng, chiếc nhẫn kẹt ở đốt thứ hai. Anh Hai phải xoay nó mấy vòng, rồi nhổ một chút nước bọt vào lòng bàn tay mình xoa lên, mới tuột ra được. Anh đeo nó vào ngón áp út bàn tay phải của mình. Hơi rộng. Anh nắm tay lại cho nó khỏi xoay.
– Đồ của ba, để con giữ. – Anh nói, không quay đầu.
Bà Bảy ngồi trên ghế bành, tràng hạt dừng lại giữa hai ngón tay. Bà nhìn chiếc nhẫn trên tay con trai, nhìn bàn tay trống của chồng, rồi lần tiếp hạt kế.
Lam đứng ở góc phòng, ôm thùng đá đã tan gần hết, thấy tất cả. Cô chưa từng thấy ông Bảy tháo chiếc nhẫn đó ra lần nào, kể cả lúc ông chui gầm xe, kể cả lúc ông rửa tay bằng dầu lửa. Có lần cô hỏi, ông giơ tay lên ngắm, nói: "Tao đeo nó từ năm chín mươi. Tháo ra là tay tao lạ."
Tám giờ, đoàn đưa tang ra khỏi hẻm Hùng Vương.
Đi đầu là chiếc xe tang sơn đen viền vàng của dịch vụ mai táng, nóc gắn hai con rồng nhựa. Kế đó là chiếc bảy chỗ chở bà Bảy và con cháu trong nhà. Rồi tới xe chở đội kèn. Sau nữa là mười một chiếc xe giường nằm của nhà xe Cự Phát, những chiếc đang nằm ở bến Quảng Ngãi hôm ấy. Chiếc nào cũng buộc một dải vải trắng ngang đầu xe, đèn pha bật sáng giữa ban ngày. Chú Năm Trọng lái xe 01 đi sát sau xe kèn. Cả đoàn bò chậm trên Quốc lộ, xe máy hai bên tạt vào lề nhường đường, có người dừng lại chắp tay.
Nghĩa trang nhân dân của phường nằm bên kia sông, phải qua cầu Bàu Giang. Cây cầu bê tông hai làn, dài chừng tám chục mét, xây từ hồi Lam còn học cấp một. Xe tang lên tới giữa cầu thì giật hai cái, khục khục, rồi tắt máy.
Đoàn xe phía sau phanh lại một loạt. Tiếng hơi xả phì phì như có ai thở dài. Đội kèn đang thổi bài tiễn, tiếng kèn ngưng giữa chừng một nốt cao, nghe chưng hửng.
Ông tài xế xe tang, một người đàn ông ngoài sáu mươi, đề máy lại. Máy quay è è, quay mãi không nổ. Ông đề lần nữa. Lần nữa. Bình điện yếu dần.
Anh Hai Hưng từ xe bảy chỗ đi ngay sau xe tang mở cửa bước xuống, mặt đỏ gay.
– Chuyện gì vậy? Ông có biết đây là đám của ai không?
– Dạ, dạ, nó tự nhiên tắt, anh. Sáng tôi chạy còn ngon lành…
– Gọi xe khác! Gọi ngay! – Anh Hai quay sang Trinh. – Em gọi bên dịch vụ, bảo nó đưa xe khác qua.
Chị Trinh bấm điện thoại, nói qua nói lại một hồi, rồi hạ máy xuống.
– Nó nói bốn mươi phút.
– Bốn mươi phút! Đứng giữa cầu bốn mươi phút!
Phía sau, cả dọc cầu, xe máy bắt đầu dồn lại, có người bóp còi rồi chợt nhận ra là đám ma, ngưng ngang. Nắng tháng Ba lên nhanh, chiếu thẳng xuống mặt cầu trắng lóa. Mấy bà trong họ đội nón lá ra đứng sát lan can.
Lam ngồi trên xe 08 của Vĩnh, chiếc thứ hai trong hàng xe giường nằm. Cô kéo cửa nhảy xuống, đi bộ lên phía trước. Qua khỏi xe kèn, qua khỏi chiếc bảy chỗ, cô ngửi thấy mùi dầu. Không phải mùi khói. Mùi dầu diesel sống, ngai ngái, lẫn trong mùi nhang.
Cô cúi xuống nhìn gầm xe tang. Dưới bụng xe, ngay khúc giữa, một vệt dầu đang loang ra trên mặt cầu, không nhiều, cỡ một bàn tay.
– Chú mở nắp capô giùm con. – Cô nói với ông tài xế.
Anh Hai quay phắt lại.
– Mày làm gì đó? Đồ của người ta, mày đụng vô hư thêm ai chịu?
– Em coi thôi anh Hai.
– Coi cái gì mà coi. Đứng qua một bên. Chờ xe khác.
Ông tài xế xe tang nhìn anh Hai, rồi nhìn Lam, tay còn đặt trên cái cần mở capô, không dám kéo.
Cửa sau xe bảy chỗ hạ xuống một khúc. Bà Bảy ngồi ở ghế sau, áo tang trắng, khăn sô trùm qua vai. Bà nói, giọng không to, nhưng mọi người đứng gần đều nghe.
– Cho nó coi.
Anh Hai há miệng, rồi ngậm lại. Ông tài xế kéo cần.
Lam không mở capô trước. Cô nằm ngửa xuống mặt cầu, lưng áp vào xi măng nóng, trườn vào gầm xe. Chiếc áo sơ mi trắng cô mặc đi đám dính dầu ngay lập tức. Dải vải tang mỏng trên đầu cô quẹt xuống mặt đường, đen một khúc. Cô lần theo đường ống dầu từ bình xuống. Ở chỗ ống cao su nối vào cái lọc dầu, cổ dê đã lỏng, ống tuột ra gần nửa đốt ngón tay. Mỗi lần máy hút, nó hút gió vào theo. Gió vào đường dầu thì máy dầu tắt, đề tới cháy bình cũng không nổ.
– Chú có cái tua vít không? – Cô nói vọng ra.
– Dạ không, cô. Đồ nghề tôi để ở nhà…
Lam thò tay vào túi quần. Cái túi bên phải của cô, từ hồi mười bảy tuổi tới giờ, lúc nào cũng có một cái tua vít hai đầu ngắn ngủn và hai ba cái cổ dê đủ cỡ. Ông Bảy dạy cô vậy: thợ ra đường không mang đồ nghề thì là khách.
Cô đẩy ống vào cho sát, siết lại cổ dê. Rồi cô trườn ra, mở capô, tìm cái bơm tay trên đầu lọc dầu, cái núm cao su tròn như núm vú bình sữa. Cô bóp nó. Bóp chừng ba chục cái. Mới đầu núm mềm xèo, bóp một hồi thì cứng dần, tới lúc nghe tiếng dầu chảy róc rách trong ống. Cô nới con ốc xả gió trên lọc ra nửa vòng, bóp thêm, bọt khí sủi ra lẫn dầu, tới lúc chỉ còn dầu trong vắt thì siết lại.
– Chú đề đi. Đề một lần thôi, đừng đề lâu.
Ông tài xế leo lên ca bin. Máy quay hai vòng, giật, rồi nổ. Tiếng nổ đục và đều.
Lam liếc đồng hồ trên tay. Từ lúc cô chui xuống tới giờ là sáu phút.
Đội kèn không ai bảo ai, tự thổi tiếp bài tiễn từ cái nốt cao còn bỏ dở.
Lam đứng dậy, phủi lưng áo. Phủi không được. Cả một mảng lưng áo trắng đen thui. Cô nhìn xuống hai bàn tay mình, dầu chảy tới cổ tay. Ông tài xế xe tang chạy xuống, cúi đầu lia lịa, đưa cho cô cái khăn lau.
– Cám ơn cô. Cám ơn cô. Trời đất ơi, cô làm nghề hả?
– Dạ. – Lam lau tay. – Chú về nhớ thay cổ dê. Cái này em siết tạm.
Cô quay đi về xe 08. Đi ngang qua chiếc bảy chỗ, cô nghe chị Trinh nói với ai đó qua điện thoại, cố tình để cửa kính hở:
– Lúc nào cũng phải làm màu. Đám ma ba người ta mà cũng phải làm màu.
Cửa sau đã kéo lên kín. Cô không thấy bà Bảy.
Vĩnh chờ cô ở bậc xe 08, đưa cho cô một chai nước suối đã mở nắp. Anh không nói gì, chỉ chỉ vào cái khăn tang dính dầu trên đầu cô, rồi chỉ vào chính đầu mình. Lam tháo khăn ra. Khúc dính dầu cô gấp vào trong. Rồi cột lại.
Đám tang xong lúc gần trưa. Đất đắp xong, nhang cắm xong, đội kèn thổi bài cuối, người ta bắt đầu về. Lam đứng ở hàng thứ năm, sau hàng con, hàng cháu, hàng họ hàng, hàng bạn làm ăn, lẫn trong đám tài xế. Khi người ta đốt áo giấy, gió nam thổi tàn lửa bay ngược về phía cô. Cô không lùi.
Tối hôm đó, sau khi khách đã về hết, anh Hai Hưng mở két.
Cái két sắt nằm trong phòng ngủ của ông bà Bảy, đặt dưới gầm bàn thờ Phật, cao tới đầu gối, sơn xanh rêu. Anh Hai ngồi xổm trước nó với chùm chìa đồng tháo từ thắt lưng cha. Bà Bảy ngồi mép giường. Chị Ba Châu đứng sau lưng anh Hai, khoanh tay. Anh Tư Phát ngồi bệt dưới đất, dựa lưng vào tủ áo. Chị Trinh đứng ở cửa phòng, cầm điện thoại để đèn pin.
Lam ở dưới bếp rửa mâm. Cô nghe được hết, vì nhà ống ba tầng, cầu thang nằm sát bếp, tiếng gì trên phòng ngủ lầu một cũng dội xuống.
Tiếng két mở. Tiếng giấy sột soạt.
– Sổ đỏ nhà. – Giọng anh Hai. – Giấy chứng nhận góp vốn công ty. Sổ tiết kiệm… hai tỷ một. Vàng, mấy cây đây.
– Sổ đỏ đất bến đâu? – Chị Ba.
– Không có. Chắc ba gửi ngân hàng. Mai em hỏi.
– Ba có vay ngân hàng hồi nào?
– Thì chắc gửi giữ. Để mai. – Tiếng giấy lại sột soạt. – Đây rồi. Phong bì. Có dấu văn phòng công chứng.
Im lặng một nhịp. Rồi giọng anh Hai đọc, to và chậm như đọc biên bản họp. Di chúc lập ngày chín tháng Năm năm hai nghìn không trăm mười chín, tại văn phòng công chứng, có công chứng viên ký. Căn nhà ba tầng đường Hùng Vương, để lại cho vợ là Trần Thị Hồng. Phần vốn bảy mươi phần trăm của ông trong công ty trách nhiệm hữu hạn vận tải Cự Phát chia ba. Con trai cả Lương Thành Hưng ba mươi lăm phần trăm. Con gái Lương Thị Mỹ Châu mười bảy phần trăm rưỡi. Con trai Lương Thành Phát mười bảy phần trăm rưỡi. Tiền gửi tiết kiệm chia đều cho vợ và ba con.
– Còn một dòng nữa. – Anh Hai nói. Rồi anh ngưng.
– Đọc đi anh. – Chị Ba.
Anh Hai không đọc. Anh cất giọng gọi xuống cầu thang:
– Lam! Lên đây.
Lam lau tay vào vạt áo, đi lên. Cô đứng ở ngưỡng cửa phòng, sau lưng chị Trinh. Chị Trinh tránh ra một chút, đủ để cô thấy mọi người, không đủ để cô bước vào.
Anh Hai giơ tờ giấy lên dưới ánh đèn, đọc to từng chữ:
– "Xe số 07 và những gì ở trong đó, để lại cho cháu Tạ Thị Lam."
Anh hạ tờ giấy xuống.
Chị Trinh bật cười trước. Một tiếng cười ngắn, tắc lại ở cổ, như người vừa nghe một câu chuyện tiếu lâm không định cười mà không nhịn được.
– Xe số bảy? Nhà mình có xe số bảy hồi nào?
– Chắc ba lẫn. – Anh Tư Phát nói, rồi cười theo, cười mà mắt vẫn còn đỏ. – Năm mười chín ba đã lẫn rồi hả trời.
Chị Ba Châu không cười. Chị cầm tờ di chúc từ tay anh Hai, đọc lại dòng cuối, lật mặt sau, soi dấu đỏ.
– "Cháu". – Chị đọc. – Ba ghi là "cháu".
– Thì ba cho mày cái xe không có. – Anh Hai nói, nhìn thẳng vào Lam, cái nhẫn mặt đá đỏ trên tay anh xoay một vòng khi anh chống tay lên đầu gối đứng dậy. – Mày ra bến mà kiếm. Kiếm được thì nó là của mày.
– Thôi anh. – Anh Tư Phát nói.
– Thôi gì? Tao nói thiệt mà. Giấy trắng mực đen. Ba để lại cho nó xe số bảy. Ai cản?
Lam đứng ở ngưỡng cửa. Cô không nhìn anh Hai. Cô nhìn tờ giấy trong tay chị Ba, nhìn cái dòng cuối. Con số không bảy được viết bằng hai chữ số rõ ràng, có số không đứng trước, đúng kiểu người ta vẫn sơn trên hông xe.
"Và những gì ở trong đó."
Bà Bảy đứng dậy khỏi mép giường.
Không ai để ý bà đã ngồi im suốt lúc nãy. Bà không cười. Mặt bà không đổi. Bà đi ngang qua anh Hai, qua chị Ba, qua anh Tư, tới cánh cửa nhỏ dẫn vào cái buồng trong, nơi bà vẫn ngủ một mình từ mấy năm nay. Bà vào buồng. Cánh cửa gỗ đóng lại sau lưng bà, không mạnh, không nhẹ. Tiếng then cài lách cách.
Trong phòng không ai nói thêm câu nào nữa.
— Hết chương 2 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe