AI Truyện
Chiếc xe số bảy trong di chúc

🏠 Gia đình & vả mặt

Xưởng Út Lam

Chiếc xe số bảy trong di chúc · Chương 20/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 20: Xưởng Út Lam

Chiếc xe ba gác chở con đội thủy lực cũ tới cổng bến lúc bảy giờ sáng thứ Hai, và trước khi ông chủ xe kịp tháo dây chằng, Lực đã đứng chắn ngay giữa lối vô.

– Cái gì đây? Chở đi đâu?

– Dạ, chở tới chỗ cô Lam. – Ông chủ ba gác nói, chỉ tay về phía góc cổng. – Cô mua hồi chiều qua, ở tiệm đồ cũ dưới chợ.

Lực quay đầu nhìn. Lam đã đứng sẵn ở khoảnh đất trống cạnh ki-ốt, tay cầm cái thước dây.

Khoảnh đất đó chừng ba trăm mét vuông, nằm giữa ki-ốt cơm và bờ rào gạch giáp ruộng mía phía đầu cổng. Hồi xưa ông Bảy trồng ở đó hai cây bàng, kê mấy cái ghế đá cho khách chờ xe ngồi. Khách chờ xe giờ ngồi trong phòng bán vé có máy lạnh, mấy cái ghế đá mốc rêu, chỉ còn hai cây bàng mỗi năm thay lá một lần. Trong hợp đồng thuê ký năm mười sáu, ông Bảy kẻ ranh rõ ràng: phần cho công ty thuê là khu bến, xưởng, bãi đậu, nhà điều hành, dãy phòng. Góc ki-ốt và khoảnh đất hai cây bàng nằm ngoài.

Lam đã đọc cái sơ đồ đó mười lần. Luật sư Thư đọc thêm mười lần nữa, rồi dặn cô lên phường đăng ký hộ kinh doanh cho đàng hoàng. Cô nộp hồ sơ từ thứ Sáu tuần trước. Tờ biên nhận, cô kẹp vào cái bìa nhựa xanh, cạnh giấy chứng nhận đất.

– Anh Lực. – Cô nói, không bước ra. – Chỗ em đứng không nằm trong phần công ty thuê. Anh muốn coi sơ đồ thì lên chị Sáu Liên. Anh cho ba gác vô đi, chắn lối xe 05 về bây giờ.

Lực đứng thêm một lúc. Rồi xe 05 về thật, bóp còi hai tiếng sau lưng anh ta. Lực tránh ra.

Cả buổi sáng hôm đó Lam dựng xưởng.

Gọi là xưởng thì to. Cô kéo một tấm bạt xanh căng giữa hai cây bàng và cái mái hiên ki-ốt. Cô đổ một lớp đá mi, cán phẳng bằng cái xẻng mượn của bà Tám, rồi kê lên đó mấy tấm ván gỗ dày làm chỗ nằm chui gầm. Con đội thủy lực, một cái máy nén hơi cũ mua của tiệm sửa xe máy ngã ba, một cái bàn nguội đóng bằng sắt hộp, một cái kệ sắt. Cái hộp đồ nghề màu đỏ đặt lên bàn. Trên vách ki-ốt, cô đóng thêm một hàng đinh, treo cờ lê theo cỡ, từ nhỏ tới lớn.

Cô không treo bảng hiệu. Không cần. Chưa tới trưa, cả bến đã gọi chỗ đó là "xưởng Út Lam".

Tiền mua đồ là tiền lương của cô. Mười hai năm làm thợ, ở phòng công ty, ăn cơm tài xế nấu chung, cô không tiêu gì mấy. Cuốn sổ tiết kiệm đứng tên cô có hai tỷ mốt thì cô không đụng tới. Đó là tiền thuê đất ông Bảy gửi, cô coi như chưa phải tiền của mình.

Khách đầu tiên tới lúc ba giờ chiều. Một chiếc xe khách hai mươi chín chỗ của một hãng nhỏ chạy tuyến Quảng Ngãi lên Kon Tum cũ. Tài xế là một người đàn ông gầy, nói giọng miền núi, xe kêu lạch cạch ở bánh trước bên trái. Anh ta tấp vô Quốc lộ hỏi đường tới tiệm sửa nào gần nhất. Bà Tám chỉ vô góc cổng.

Lam nằm gầm mười phút, chui ra.

– Rotuyn lái mòn rơ, anh. Chạy đèo lên Kon Tum mà nó văng ra thì xe đi xuống vực. Em có hàng, thay mất bốn mươi phút.

– Bao nhiêu cô?

Cô nói giá. Người tài xế nhìn cô, nhìn cái bạt xanh, nhìn cái hộp đồ nghề màu đỏ, rồi gật đầu.

– Rẻ hơn dưới phố.

– Dạ, em mới mở.

Bốn mươi phút sau xe chạy. Người tài xế để lại số điện thoại, nói chủ hãng anh có tám chiếc, chiếc nào cũng cần người coi.

Hai ngày sau, tám chiếc đó đã có hai chiếc ghé.

Rồi tới xe tải chở mía của ông Sáu Khương bên kia đường. Rồi xe đưa rước công nhân của một công ty may trong khu công nghiệp. Rồi một chiếc xe cứu thương của trạm y tế xã bên cạnh, hư bơm nước, tài xế lái tới chỗ cô lúc mười giờ đêm vì không chỗ nào khác còn mở. Lam nằm gầm dưới ánh đèn pin đội đầu, Vĩnh cầm cái bóng đèn kéo dây đứng soi.

Thứ Năm là ngày ba mươi tháng Tư. Thứ Sáu là ngày một tháng Năm. Người làm ăn trong Sài Gòn về quê, người ở quê vô Sài Gòn chơi lễ, xe nào cũng kín chỗ từ tuần trước. Nhà xe Cự Phát chạy thêm chuyến. Mười sáu chiếc, tính luôn ba chiếc thiếu tài phải thuê tài xế thời vụ, chiếc nào cũng chạy liền hai đêm, về tới bến buổi sáng là đổ dầu, rửa xe, chiều lại xuất bến.

Xưởng của Lực thì có ba thằng thợ trẻ, một người thợ già đã muốn nghỉ, và Lực.

Đêm thứ Tư, hai giờ sáng, có tiếng gõ lên cửa cuốn.

– Út. Út ơi.

Anh Khải. Sau lưng anh, chiếc xe 02 đậu sát mép Quốc lộ, ngoài cổng bến, đèn khẩn cấp nhấp nháy.

– Xe anh về sớm, chạy suốt từ Nha Trang ra cứ hụt ga. Sáu giờ chiều nay chạy chuyến lễ. Anh mà đưa vô xưởng thì anh Lực cho thay cái này cái kia, ba ngày chưa xong. – Anh Khải nói nhanh, mắt ngó vô cổng. – Út coi giùm anh. Đừng cho anh Lực biết.

Lam khoác áo. Cô coi. Cái ống dẫn hơi từ lọc gió vô máy bị nứt một đường dọc, lâu ngày, gió bẩn lọt vô. Cô cắt bỏ khúc nứt, nối bằng một khúc ống mới với hai cái cổ dê, quấn băng keo chịu nhiệt bên ngoài.

– Tạm vậy cho anh chạy chuyến lễ. Về anh đặt ống mới, thay cả đoạn.

– Bao nhiêu Út?

– Khúc ống với hai cái cổ dê. Hai chục.

Anh Khải nhét vào tay cô tờ năm chục, chạy về xe trước khi cô kịp thối.

Tối thứ Năm là anh Đạt xe 11, đèn báo nạp bình không tắt. Tối thứ Sáu là chú Hòa xe 12, một cái bạc đạn bánh sau kêu ò ò. Họ không tới bằng cổng bến. Họ tới vào lúc tàn đêm, từ Quốc lộ, đậu xe ngoài lề, đi bộ vô góc cổng, như người đi khám bệnh lén.

Lam sửa hết. Cô không hỏi họ vì sao không đưa vô xưởng. Cô biết.

Sáng thứ Bảy, Lực biết.

Không ai mách. Chính cái bạc đạn xe 12 mách. Lực đi dọc bãi kiểm xe, thấy bánh sau xe 12 có con ốc mới, sáng bóng, khác hẳn mấy con ốc rỉ chung quanh. Anh ta gọi chú Hòa ra hỏi. Chú Hòa đã chạy cho ông Bảy hai mươi hai năm. Chú không chối.

– Xe tao kêu, tao đưa nó coi. Mày bắt tao chờ tới thứ Ba. Tao chở bốn chục người, tao không chờ tới thứ Ba.

Lực lên phòng anh Hai. Mười giờ, anh Hai đánh kẻng gom tài xế.

Đứng giữa sân, anh Hai Hưng trông già hơn bốn mươi chín tuổi. Hai tuần nay anh gầy đi thấy rõ, cổ áo sơ mi rộng ra một vòng, cái nhẫn đá đỏ trên tay phải lỏng tới mức mỗi lần anh khoát tay là nó trượt xuống tận khớp. Lam đứng trong góc xưởng của mình, sau tấm bạt xanh, nhìn ra.

– Xe công ty là tài sản công ty. – Anh Hai nói. – Ai mang xe ra ngoài sửa mà không báo quản đốc, hư thêm thì người đó chịu. Từ nay, ai làm vậy, trừ một tháng lương.

Không ai nói gì. Chú Hòa nhìn xuống đất. Anh Khải khoanh tay.

Chú Năm Trọng thì nhìn thẳng anh Hai.

– Anh Hai. – Chú nói. – Ba anh hồi xưa nói một câu. Xe hư thì sửa, sửa ở đâu không quan trọng, quan trọng là xe không chở người đi chết. Anh nhớ không?

Anh Hai nhìn chú Năm. Lam thấy cái quai hàm anh bạnh ra, rồi xẹp xuống.

– Chú Năm, đó là ba con nói. – Anh nói. – Giờ con nói.

Anh quay đi. Lực đi theo. Cánh tài xế tản ra từng người, không ai nhìn về phía tấm bạt xanh.

Chiều thứ Bảy, Lam sửa xong một chiếc xe tải nhỏ chở gạch, rồi ngồi vá săm xe máy cho thằng con bà Tám. Nắng tháng Năm đã gắt hẳn. Hai cây bàng lá non xanh mướt, bóng đổ xuống tấm bạt thành những mảng loang. Bà Tám bưng sang một ly nước sâm.

– Con lời lỗ gì chưa?

– Dạ, đủ tiền mua cái máy nén.

– Vậy là lời.

Lam cười. Cô nhận ra mình cười lần đầu từ hôm ngày bốn mươi chín.

Mười một giờ đêm, đèn pha một chiếc xe giường nằm quét qua tấm bạt.

Không phải đèn của xe xuất bến. Xe xuất bến đã đi hết từ chín giờ. Chiếc này từ phía Nam ra, chạy chậm, rẽ vô lề Quốc lộ, đậu ngay trước góc cổng. Hơi xả phanh xì một tiếng dài. Trên hông xe, con số 15 sơn đen.

Người bước xuống là anh Thuận, tài chính xe 15, ba mươi tám tuổi, người ít nói nhất cánh tài xế. Mặt anh tái. Tay anh run, run tới mức anh phải nắm hai tay lại với nhau.

– Út. – Anh nói. – Em coi giùm anh cái phanh.

– Xe anh đâu có chạy chuyến tối nay.

– Không. Anh Hai nhận một chuyến hàng hợp đồng, chở từ Quy Nhơn ra, xe không có khách. Chín giờ tối, xuống đèo Bình Đê. – Anh nuốt nước bọt. – Phanh mềm, Út. Đạp sâu xuống mới ăn. Anh dùng phanh khí xả với về số thấp mà ôm cua. Xuống chân đèo, anh ngửi thấy mùi khét ở bánh trước. Bánh sau thì không ăn gì hết.

– Xe có ai không anh?

– Có hàng với hai người áp tải. – Anh Thuận nói. – Nếu là chuyến khách…

Anh không nói hết câu. Lam không bảo anh nói hết.

Cô đội đèn pin lên trán, chui xuống gầm. Cô lần theo đường ống hơi từ bình chứa phía sau xuống cái van rơ-le khí, cái van nhỏ cỡ nắm tay, bắt dưới khung xe, chia hơi tới hai bầu phanh bánh sau. Cái van còn mới, sơn đen bóng, chưa dính một vệt bùn.

– Van này mới thay hả anh?

– Anh Lực thay hôm thứ Sáu. Ổng nói phanh sau bó, phải thay van.

Lam rọi đèn sát vô. Van rơ-le có bốn cổng, mỗi cổng có số đúc nổi trên thân. Cổng một là cổng hơi cấp vô, từ bình chứa. Cổng hai là cổng hơi ra, đi bầu phanh. Cổng bốn là cổng điều khiển. Ống từ bình chứa, cái ống to nhất, đang bắt vô cổng hai. Ống đi bầu phanh thì bắt vô cổng một.

Lắp lộn. Lắp lộn hai đầu.

Mỗi lần anh Thuận đạp phanh, hơi không đi được tới bầu phanh sau. Cả chiếc xe mười mấy tấn chỉ còn trông vào hai bánh trước, chạy xuống con đèo Bình Đê, trong bóng đêm.

Lam nằm im dưới gầm xe một lúc. Ánh đèn pin trên trán cô rọi lên cái van mới sơn đen bóng, lên mấy con số đúc nổi nhỏ xíu, những con số mà ai cầm cờ lê lên cũng phải nhìn thấy, nếu chịu nhìn.

– Út? – Anh Thuận cúi xuống. – Sao rồi em?

Cô trườn ra. Cô ngồi dậy, tháo đèn pin khỏi trán, đưa cho anh Thuận.

– Anh soi giùm em. – Cô nói. – Em làm lại ngay bây giờ. Nhưng anh nghe em nói nè. Xe này chưa được chạy khách, cho tới khi em kiểm hết cả hệ thống phanh, và cho tới khi anh Hai biết chuyện.

– Anh Hai mà biết thì…

– Thì anh Hai phải biết. – Lam nói. – Lần này không giấu.

Cô cầm cái mỏ lết, chui lại xuống gầm. Bốn mươi phút sau, hai cái ống hơi đã về đúng cổng. Anh Thuận nổ máy, bơm hơi đầy bình, đạp phanh. Hai bầu phanh sau xì một tiếng, ăn chặt.

Lam rửa tay dưới cái vòi nước ở góc cổng. Rồi cô làm một việc cô chưa từng làm suốt mười hai năm ở bến. Cô lấy điện thoại, chụp lại hai cái đầu ống cũ còn dính dấu cờ lê, chụp cái van, chụp mấy con số đúc nổi. Cô ngồi xuống bậc ki-ốt, kê tờ giấy A4 lên cái hộp đồ nghề màu đỏ, viết.

"Bệnh án xe 15. Ngày hai tháng Năm."

Mười hai giờ rưỡi đêm, cô gấp tờ giấy làm đôi, bỏ túi áo ngực, đi bộ qua sân bến, về phía nhà điều hành. Trên tầng hai, đèn phòng ông Bảy vẫn còn sáng.

— Hết chương 20 —

Mục lục Chiếc xe số bảy trong di chúc

  1. 1Máy còn nổ ở hầm số hai11 phút
  2. 2Xe tang chết máy trên cầu Bàu Giang11 phút đọc
  3. 3Ba mươi năm không có số bảy11 phút đọc
  4. 4Ông khách đi xe màu bạc10 phút đọc
  5. 5Bảng kê mười sáu chiếc xe10 phút đọc
  6. 6Bốn cái tên ở khúc cua11 phút đọc
  7. 7Những dòng chi khác10 phút đọc
  8. 8Một cái tên trên trích lục12 phút đọc
  9. 9Ngày hai mươi mốt11 phút đọc
  10. 10Bộ vest xám ở phường Cẩm Thành10 phút đọc
  11. 11Ki-ốt cơm ở góc cổng11 phút đọc
  12. 12Mối hàn ba mươi năm10 phút đọc
  13. 13Ghế tài lùi nấc cuối10 phút đọc
  14. 14Cô Sen ở làng chài10 phút đọc
  15. 15Bãi đậu không phải bến10 phút đọc
  16. 16Bà Tám Dưỡng kể9 phút đọc
  17. 17Đường ra Đà Nẵng10 phút đọc
  18. 18Không cùng một dòng máu10 phút đọc
  19. 19Con của Tạ Văn Đức12 phút đọc
  20. 20Xưởng Út Lam11 phút đọc
  21. 21Tờ cọc sáu tỷ11 phút đọc
  22. 22Ray ghế ở nấc cuối11 phút đọc
  23. 23Năm sào ruộng mặt đường11 phút đọc
  24. 24Người lơ xe ven đầm Ô Loan10 phút đọc
  25. 25Ba triệu mỗi tháng10 phút đọc
  26. 26Ghế số chín10 phút đọc
  27. 27Buổi hòa giải ở tòa11 phút đọc
  28. 28Quáng gà11 phút đọc
  29. 29Cuộc gọi lúc ba giờ sáng10 phút đọc
  30. 30Mười sáu chiếc xe đứng yên10 phút đọc
  31. 31Phần của má10 phút đọc
  32. 32Bàn tiệc Đại Phong10 phút đọc
  33. 33Đơn rút10 phút đọc
  34. 34Cái tên thứ năm10 phút đọc
  35. 35Xe số bảy lăn bánh10 phút đọc
  36. 36Giỗ đầu10 phút đọc

Về truyện này

Chiếc xe số bảy trong di chúc là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Khánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →