Chương 35: Xe số bảy lăn bánh
Lam sơn con số không trước, con số bảy sau, bằng tay, bằng một cây cọ dẹt cỡ hai đốt ngón tay. Cô đứng trên cái thang tre dựa vào hông chiếc xe giường nằm mới từ sáu giờ sáng ngày ba mươi tháng Sáu.
Cô không dùng decal. Chị Ba đã đặt in decal, loại phản quang, đẹp, dán năm phút là xong. Lam xin chị Ba để cô sơn. Chị Ba nhìn cô một lúc, không hỏi vì sao, chỉ gật đầu.
Cô kẻ khung bằng phấn trước. Cô đo từ mép dưới hàng cửa sổ xuống, đo từ cái cửa lên xuống ra, đúng chỗ mười lăm chiếc kia vẫn mang số của chúng. Rồi cô nhúng cọ vào hũ sơn đen, kéo nét đầu tiên.
Chiếc xe này về bến tuần trước. Xe giường nằm đời mười chín, bốn mươi giường, của một hãng nhỏ ở Quy Nhơn làm ăn thua lỗ phải bán bớt. Ông Quách Văn Tâm là người gọi điện báo cho chị Ba. Ông nói ông nghỉ việc ở Đại Phong rồi, giờ làm tự do, có ai nhờ thì đi kiểm xe. Ông nói chiếc này còn tốt, máy còn khỏe, hộp số êm, chỉ có hệ thống điện hơi rối. Lam vô Quy Nhơn coi tận nơi, nằm gầm hai ngày, viết bệnh án ba trang. Chị Ba đọc, gọi cho ông chủ hãng kia, trả giá, trừ tiền cái hệ thống điện. Tiền mua lấy từ tiền bán xe 09, cái xe mà hồi tháng Ba Lam ghi trong bảng kê là nên thanh lý trong năm nay.
Chị Ba hỏi bà Bảy chiếc xe mới mang số mấy. Số 09 cũ đã bán, theo lẽ thì xe mới lấy lại số 09, như mọi đời xe trước.
Bà Bảy nói một câu.
– Sơn số bảy.
Bảy giờ, Lam kéo nét cuối cùng của con số bảy. Cô bước xuống thang, lùi ra xa mười bước, đứng nhìn.
07.
Hai con số đen bóng trên nền sơn trắng sọc xanh, to bằng cái nón lá, nằm ngay giữa thân xe, dưới hàng cửa sổ. Nét sơn còn ướt, lấp lánh dưới nắng sớm.
Vĩnh đứng sau lưng cô, cầm ly cà phê sữa đá.
– Đẹp. – Anh nói.
– Cái số bảy hơi nghiêng.
– Nghiêng chút cho nó giống tay người sơn.
Tám giờ, Lam thay đồ, rửa tay bằng dầu lửa cho hết sơn, mặc cái áo sơ mi trắng, đi lên văn phòng công chứng trên tỉnh với chị Ba, anh Hai, luật sư Thư.
Cùng cái văn phòng năm mười sáu. Cùng cái cầu thang lát gạch đỏ, cùng cái bàn gỗ dài, chỉ có người công chứng viên là khác, một người đàn ông trẻ đeo kính, đọc hợp đồng to và rõ như ông Toản ngày xưa.
Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất. Bên cho thuê: Tạ Thị Lam. Bên thuê: Công ty trách nhiệm hữu hạn vận tải Cự Phát, người đại diện theo pháp luật Lương Thành Hưng. Thời hạn mười năm, từ ngày một tháng Bảy năm hai nghìn hai mươi sáu. Giá thuê theo kết quả thẩm định của một công ty thẩm định giá độc lập, điều chỉnh năm năm một lần. Tiền thuê hằng năm được cấn trừ dần vào khoản tiền công ty đã vay của bên cho thuê theo hợp đồng vay ngày mười bảy tháng Sáu, cho tới khi hết nợ.
Có thêm một điều khoản mà người công chứng viên trẻ đọc tới thì ngừng lại, đẩy cặp kính lên, đọc lại lần nữa cho chắc. Bên thuê cam kết duy trì tuyến vận tải hành khách cố định Quảng Ngãi – Sài Gòn xuất bến tại bến xe này trong suốt thời hạn thuê. Bên thuê không chuyển nhượng, không cho thuê lại mặt bằng cho bên thứ ba khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của bên cho thuê.
– Điều này ai đề nghị? – Người công chứng viên hỏi.
– Dạ, em. – Lam nói.
– Bên thuê có đồng ý không?
– Đồng ý. – Anh Hai nói.
Anh ký trước. Tay anh không run. Ngón áp út tay phải anh trống trơn, cái vệt trắng nhạt chỗ cái nhẫn đã mờ đi gần hết. Anh ký xong, đẩy bản hợp đồng qua cho Lam, rồi đứng dậy, đi ra cửa sổ, đứng nhìn xuống đường.
Lam ký. Lần này cô không khóc.
Mười giờ, chị Ba nhận một tin nhắn từ luật sư Kha. Bên Đại Phong xác nhận đã nhận đủ bảy tỷ rưỡi, biên bản thanh lý thỏa thuận đặt cọc đã ký, hai bên không còn nghĩa vụ gì với nhau. Anh Hai đọc tin nhắn qua vai chị Ba. Anh gật đầu, không nói gì. Hôm qua anh đã ký giấy bán căn hộ trong Sài Gòn, bán sáu lô đất ngoài biển, bán chiếc bảy chỗ. Sáng nay anh đi xe ôm tới văn phòng công chứng.
Bốn giờ chiều, cả bến đã biết tối nay xe số bảy chạy chuyến đầu, chuyến chót trong đêm.
Không ai báo. Không ai đánh kẻng. Cái tin cứ đi từ sạp bà Tám ra quán cà phê đầu cầu, từ quán cà phê vô xưởng, từ xưởng lên phòng bán vé. Có khách gọi điện đặt vé, hỏi đích danh xe số bảy. Chị Liên ghi tên vô sổ, ghi tới giường cuối cùng.
Năm giờ, chú Tấn đỗ xe 03 vô hàng, leo xuống, đi ngang qua chiếc xe mới, đứng lại nhìn con số bảy. Chú đưa ngón tay cái lên, rồi không nói gì, đi vô phòng bán vé lấy lệnh.
Năm giờ rưỡi, Lam vô phòng bán vé. Cô cầm theo cái chìa khóa xe mới, cái chìa móc vào một cái khoen sắt có gắn một miếng nhựa vàng, trên đó cô đã khắc con số 07 bằng mũi khoan nhỏ.
Tấm bảng gỗ treo chìa sau quầy bán vé. Cô đã nhìn nó mười mấy năm. Dưới cái móc của chiếc bán tải dịch vụ là hai hàng móc sắt dành cho xe tuyến, mỗi móc có một con số sơn trắng nhỏ ở trên. Hàng trên: 01, 02, 03, 04, 05, 06. Rồi một cái móc trống, không có số. Rồi 08, 09, 10.
Cô chưa bao giờ để ý. Ba mươi năm, giữa móc 06 và móc 08, có một cái móc sắt không ai treo gì, không ai sơn số. Cái móc đã rỉ đỏ, cong xuống một chút như bị ai đó từng treo một chùm chìa nặng lên.
Lam treo cái chìa xe 07 lên cái móc đó.
Cô lấy cây cọ nhỏ trong túi quần, nhúng vào hũ sơn trắng chị Liên để trên quầy, sơn hai con số nhỏ lên mặt gỗ phía trên cái móc. 07.
Chị Liên ngồi ở quầy bán vé nhìn cô. Chị không nói gì. Chị tháo kính ra lau, lau lâu, rồi đeo lại.
Sáu giờ, bà Bảy tới.
Bà tới bằng xe ôm, như mọi lần. Bà mặc áo bà ba lụa xám. Bà không vô phòng điều hành. Bà đi thẳng ra góc cổng, tới trước cái ki-ốt cơm cũ.
Lam đang đứng trong ki-ốt. Trên cái kệ gỗ cô mới đóng tuần trước, gắn trên vách gạch ngay trên cái chõng tre, có một cái hộp kính nhỏ, bốn mặt kính, đáy gỗ. Cô tự cắt kính từ mấy tấm kính vụn xin của tiệm kính đầu cầu, tự dán keo. Bên trong hộp kính là đôi giày len vàng, đặt ngay ngắn, cái ruy băng trắng ở cổ đã ngả màu ngà. Cạnh hộp kính, dựng nghiêng, là tấm ảnh cưới "Lựu – Đức, 1994", và tấm ảnh trắng đen người đàn ông nhỏ con cười toe toét đứng cạnh cửa xe số bảy.
Bà Bảy đứng ngoài ngưỡng cửa ki-ốt, đúng cái chỗ ông Bảy đã đứng mười sáu năm, đúng cái chỗ bà đã đứng đêm hai mươi ba tháng Tư.
Bà nhìn cái hộp kính.
– Má vô coi được không? – Bà hỏi.
Lam đứng yên trong ki-ốt. Cô nhìn bà Bảy. Cô nhìn cái ngưỡng cửa, cái bậc xi măng thấp, mòn vẹt ở giữa vì mười sáu năm chân má cô bước ra bước vô, vì mười mấy năm chân cô bước ra bước vô. Cái bậc mà ông Bảy chưa từng bước qua.
– Dạ. – Cô nói. – Cô vô.
Bà Bảy nhấc chân. Bà bước qua cái ngưỡng cửa, chậm, như người ta bước qua ngưỡng cửa chùa. Bà vô trong ki-ốt. Bà đứng trước cái kệ gỗ, nhìn đôi giày len vàng trong hộp kính, nhìn tấm ảnh cưới. Bà nhìn lâu. Rồi bà đưa tay ra, không chạm vào hộp kính, chỉ đặt bàn tay lên cái mép kệ gỗ, ngay dưới tấm ảnh cưới, như người ta đặt tay lên vai một người.
Bà không khóc. Bà đứng đó cho tới khi chiếc xe đầu tiên ngoài bãi nổ máy.
Sáu giờ rưỡi, mặt trời đã lặn sau dãy núi phía tây. Ở phía đông, bên kia ruộng mía, trăng mười sáu lên, tròn, vàng, to như cái mâm đồng, treo lơ lửng trên ngọn mía.
Xe số bảy đậu ở đầu hàng. Vĩnh ngồi ghế tài. Chú Năm Trọng ngồi ghế phụ, điếu thuốc rê trên vành tai. Năm mươi chín tuổi, mười mấy năm nay chú không chạy tài phụ cho ai. Hồi chiều chú lên phòng chị Ba, xin đổi chuyến xe 01 cho người khác, xin đi tài phụ xe số bảy chuyến đầu. Chú nói chú muốn ngồi cái ghế đó một lần.
Bốn mươi giường đã đủ khách. Khách ngồi trên giường, ngó ra cửa sổ, có người chụp hình con số bảy mới sơn. Giường số một, tầng dưới, là anh Hai. Anh vô Sài Gòn nhận văn phòng, cái va li nhỏ đặt dưới chân giường, hai tay đặt trên đùi, ngồi thẳng lưng như người khách đi xe lần đầu.
Lam đứng cạnh cửa lên xuống. Cô cầm cái bảng kê, kiểm lần cuối: lốp, nhớt, nước, phanh hơi, đèn. Cô đã kiểm ba lần từ trưa. Cô kiểm lần thứ tư.
Vĩnh bước xuống khỏi ca bin. Anh đứng trước mặt cô.
– Út. – Anh nói.
– Dạ.
– Sáng mốt anh về.
– Dạ. Anh chạy chậm qua Cù Mông.
– Anh chui hầm.
– Dạ.
Vĩnh nhìn cô. Rồi anh đưa tay ra, nắm lấy bàn tay cô. Bàn tay cô còn dính sơn đen ở gốc ngón cái, dính dầu ở đầu móng, chai sạn ở lòng. Anh nắm nó, không chặt, không lỏng, như người ta nắm cái tay nắm cửa của một chiếc xe mình sắp leo lên.
Lam không rút tay ra.
Hai người đứng như vậy, dưới ánh đèn bảo vệ vàng vọt và ánh trăng mười sáu, cạnh cái cửa xe số bảy. Không lâu. Chừng mười nhịp thở. Rồi chú Năm Trọng ở trong ca bin ho khan hai tiếng, ho rất to, rất cố ý.
Vĩnh buông tay. Anh leo lên ca bin.
Sáu giờ năm mươi, xe số bảy nổ máy. Tiếng máy đục, đều, khỏe, vang khắp bãi. Đèn pha bật sáng, rọi thẳng ra cổng. Đèn hậu đỏ rực. Hơi xả phanh xì một tiếng dài.
Chiếc xe lăn bánh ra khỏi hàng, chạy chậm qua bãi, qua trước nhà điều hành, qua trước cái ki-ốt ở góc cổng. Bà Bảy đứng trong ki-ốt, nhìn ra. Bà Tám đứng ở sạp. Chị Liên đứng trên bậc phòng bán vé. Chị Ba đứng trên lầu, ở cửa sổ phòng ông Bảy. Anh Tư đứng ở cổng, cầm cái loa của bảo vệ, không nói gì vô loa, chỉ cầm.
Xe số bảy rẽ ra Quốc lộ, rẽ về phía Nam. Ánh trăng phủ lên nóc xe một lớp bạc mỏng.
Lam đứng ở cổng bến, nhìn hai cái đèn hậu đỏ nhỏ dần, nhỏ dần trên con đường thẳng tắp chạy giữa hai cánh đồng. Cho tới khi nó chỉ còn là hai đốm đỏ, rồi một đốm, rồi tan vào cái màu bạc của đêm trăng.
— Hết chương 35 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe