Chương 36: Giỗ đầu
Chiều mười bảy tháng Giêng năm Đinh Mùi, chiếc xe đỏ đô của anh Tư đỗ trước cổng nhà Hùng Vương. Người đầu tiên bước xuống là ông Chín Lộc, tay chống nạng, tay xách một túi sò huyết còn ướt nước đầm.
– Sò Ô Loan. – Ông nói với bà Bảy, ở ngưỡng cửa. – Ổng thích ăn sò nướng. Hồi xưa chạy ngang đầm, ổng bắt dừng xe mua.
Bà Bảy nhận túi sò, cúi đầu cám ơn. Ông Chín Lộc đứng ở ngưỡng cửa thêm một lúc, nhìn vô bàn thờ, nhìn tấm ảnh ông Bảy mặc vest nâu, nhìn chiếc nhẫn mặt đá đỏ đặt dưới chân khung ảnh. Rồi ông chống nạng bước vô.
Tám tháng nay, đây là lần thứ năm ông Chín Lộc ngồi xe anh Tư đi hai trăm cây số. Hai tay ông vẫn bấu chặt vô ghế trước, mắt vẫn nhắm nghiền lúc xe chui hầm Cù Mông. Nhưng ông vẫn ngồi.
Mỗi tháng, ngày hai mươi, ông vẫn ra bưu điện văn hóa xã. Tiền vẫn tới, ba triệu, người gửi vẫn là Phùng Thị Liên. Chỉ có cái dòng trong sổ sách công ty là đổi. Chị Ba gạch bỏ hai chữ "chi khác", ghi lại bằng mực xanh: "Trợ cấp ông Đỗ Văn Lộc, lơ xe số 07, theo quyết định của Hội đồng thành viên." Tháng đầu, ông Chín Lộc gửi trả. Tháng thứ hai, Lam xuống Ô Loan, ngồi đầu cầu với ông cả buổi chiều. Tháng thứ ba, ông nhận.
Mâm cúng tiên thường dọn ra lúc năm giờ chiều. Nhà Hùng Vương không đông như ngày đám. Bà con bên nội có ông Út Đáng, mấy bà cô. Bên ngoại có ông cậu ở Sơn Tịnh. Và những người mà một năm trước không ai nghĩ sẽ ngồi trong căn phòng này.
Cô Sen ngồi ở mâm trong, khăn rằn đã tháo ra, tóc búi gọn. Trước mặt chị là dĩa cá thu một nắng mang từ làng lên, chị đã chiên trong bếp nhà bà Bảy, chê cái chảo của bà Bảy mỏng. Chú Năm Trọng ngồi cạnh ông Chín Lộc, hai ông già chụm đầu nói chuyện xe đời cũ. Luật sư Thư ngồi ở góc, không mặc vest. Chị Sáu Liên, bà Tám Dưỡng, ngồi chung một mâm ngoài hiên.
Anh Hai từ Sài Gòn về sáng nay, đi xe số bảy. Anh ngồi giường số một, tầng dưới, như cái đêm anh đi chuyến đầu tiên của nó. Tám tháng ở văn phòng Sài Gòn, anh đen đi, gầy đi, nhưng cái mặt không còn hốc hác. Hồ sơ gia hạn phù hiệu xong từ tháng Chín, anh là người đi giải trình ba cái biên bản. Vé Tết ở văn phòng Sài Gòn bán hết sạch trước ngày rằm tháng Chạp. Chị Trinh vô Sài Gòn với anh, mở một cái quán bánh xèo nhỏ gần văn phòng, bán cho tài xế với khách chờ xe. Trang cá nhân của chị chỉ đăng hình bánh xèo.
Anh Tư ngồi sát cửa, như mọi lần. Anh đã thôi cá độ từ tháng Sáu. Anh đi học lấy bằng lái xe khách, thi trượt một lần, thi lại đậu. Giờ anh chạy tài phụ cho chú Hòa trên xe 12, mỗi tuần hai chuyến. Chú Hòa nói anh lái được, chỉ có tật hát bolero.
Chị Ba ngồi cạnh bàn thờ. Chị là giám đốc từ tháng Mười, sau khi thủ tục khai nhận di sản xong, hội đồng thành viên họp, má chị là người giơ tay đầu tiên. Chị vẫn đọc sổ tới mười một giờ đêm. Chị vẫn không ứng lương trước cho ai. Nhưng tài xế nói chị Ba giờ có cười.
Lam ngồi ở mâm trong, cạnh bà Bảy.
Cô không ngồi ở đó vì ai xếp. Lúc dọn mâm, bà Bảy kéo cái ghế đẩu cạnh mình, vỗ lên mặt ghế hai cái. Lam ngồi xuống. Không ai nói gì.
Trước khi ăn, bà Bảy thắp nhang. Bà thắp ba cây, đưa cho Lam ba cây. Hai người đứng trước bàn thờ, trước tấm ảnh người đàn ông mặc vest nâu, cái mặt nghiêm nghị, hai con mắt nhìn thẳng mà không nhìn ai. Bà Bảy khấn nhỏ, môi mấp máy. Lam không khấn. Cô đứng nhìn tấm ảnh, nhìn chiếc nhẫn mặt đá đỏ dưới chân khung ảnh, đã phủ một lớp bụi nhang mỏng.
Cô cắm ba cây nhang vô bát.
– Chú Bảy. – Cô nói, nhỏ, chỉ đủ cho mình và bà Bảy nghe. – Con về.
Bữa cơm kéo dài tới tám giờ. Ông Út Đáng uống ba ly rượu, kể chuyện hồi nhỏ hai anh em đi chăn bò, ông Bảy té từ lưng bò xuống mương, gãy cái răng cửa. Cả nhà cười. Ông Chín Lộc không cười, nhưng ông gắp cho ông Út Đáng một con sò nướng. Cô Sen với bà Tám cãi nhau chuyện kho cá nục bằng củ nén hay bằng nghệ, cãi tới mức chị Liên phải can.
Chín giờ, Lam về bến. Bà Bảy đi theo cô.
Bà ngồi sau xe máy, hai tay vịn lên vai Lam, cái túi vải đặt giữa hai người. Đường Hùng Vương, rồi Quốc lộ, rồi cầu Bàu Giang. Gió đầu xuân lạnh, gió bấc, thổi từ phía biển vào. Ruộng mía hai bên đường đã đốn gần hết, trơ gốc.
Ki-ốt ở góc cổng vẫn như cũ. Cái cửa cuốn kéo lên một nửa. Cái chõng tre. Cái hộp đồ nghề màu đỏ. Hàng cờ lê treo theo cỡ trên vách. Xưởng Út Lam dưới tấm bạt xanh giờ chỉ mở ngày Chủ nhật, cho mấy xe hãng nhỏ, xe cứu thương, xe đưa rước. Ngày thường, Lam ở xưởng ba hầm, tổ trưởng, như cũ.
Trên cái kệ gỗ gắn trên vách gạch, giờ là một cái bàn thờ nhỏ. Một bát nhang sành, hai cây đèn dầu nhỏ, một bình hoa cúc vàng. Cái hộp kính đựng đôi giày len vàng. Tấm ảnh cưới "Lựu – Đức, 1994". Tấm ảnh trắng đen người đàn ông nhỏ con cười toe toét đứng cạnh cửa chiếc xe số bảy.
Lần đầu tiên tấm ảnh đó được đặt lên một bàn thờ.
Lam thắp nhang. Bà Bảy đứng sau lưng cô. Bà mở cái túi vải, lấy ra một gói lá chuối, vuông vức, buộc bằng một sợi chỉ đỏ, thắt nơ một vòng. Bà đặt nó lên cái kệ gỗ, trước tấm ảnh cưới.
– Cá bống kho. – Bà nói. – Má kho hồi chiều.
Lam nhìn gói cơm lá chuối. Cô nhớ cái buổi sáng Chủ nhật tháng Ba, bị đuổi việc, đi về phòng, thấy nó đặt trước bậc cửa, còn ấm. Cô vẫn còn giữ sợi chỉ đỏ đó, quấn quanh cái khoen chìa khóa xe máy.
– Cô vô ngồi. – Lam nói.
Bà Bảy bước qua ngưỡng cửa. Bà ngồi xuống mép cái chõng tre. Lam ngồi xuống cạnh bà. Hai người ngồi nhìn cái bàn thờ nhỏ, nhìn khói nhang bay lên, quẩn quanh dưới mái tôn rồi thoát ra qua khe cửa cuốn.
Họ không nói gì nhiều. Bà Bảy hỏi xe số bảy chạy có êm không. Lam nói êm, chỉ có máy số bốn hơi gằn khi máy nguội, cô đang theo dõi. Bà Bảy hỏi Vĩnh có hay ghé không. Lam nói tối nào anh không chạy thì anh ghé, mang cà phê. Bà Bảy gật đầu, không hỏi thêm.
Mười giờ, chú xe ôm quen tới đón bà. Bà đứng dậy, đi ra ngưỡng cửa, rồi quay lại.
– Mai giỗ chính. – Bà nói. – Đi Cù Mông với xuống Sa Huỳnh về rồi mới cúng. Con ngồi xe với má.
– Dạ.
Bà ra về. Lam kéo cửa cuốn xuống một nửa, nằm xuống cái chõng tre. Cô nằm nghe tiếng xe tải chạy ngoài Quốc lộ, nhìn những vệt đèn pha quét ngang vách gạch, quét qua cái bàn thờ nhỏ, qua cái hộp kính, làm đôi giày len vàng lóe lên một chút rồi tắt.
Ba ngày trước, mười bốn tháng Giêng, cô tròn ba mươi tuổi. Không ai làm tiệc. Vĩnh mang tới một ổ bánh bông lan mua ở tiệm dưới văn phòng chị Thư, cắm một cây nến. Cô Sen gọi điện từ làng chài, hát một câu chúc mừng sinh nhật, hát sai lời. Ông Chín Lộc nhắn một tin, chữ viết không dấu, sai chính tả: "Chuc con manh khoe. Ba con cung vui."
Cô ngủ lúc nào không biết.
Bốn giờ hai mươi sáng, Lam nghe tiếng máy xe nổ không tải ở hầm số hai.
Cô mở mắt trong bóng tối. Cô nằm im thêm một nhịp để nghe cho rõ. Tiếng máy đều, hơi gằn ở nhịp thứ tư. Cô biết tiếng máy đó. Cô biết nó như má cô từng biết tiếng máy từng chiếc xe xuất bến, ngồi quạt cho cô bằng cái quạt nan, đếm. "Xe một đi rồi. Xe hai đi rồi."
Xe số bảy.
Tối qua xe số bảy không chạy tuyến. Chị Ba để nó nằm bến, sáng nay sáu giờ chạy một chuyến hợp đồng, chở cả nhà với bà con vô Cù Mông. Họ sẽ thắp nhang trước tấm bia giờ đã đứng thẳng, cái đế Phước đổ lại từ tháng Bảy. Rồi xuống làng chài Sa Huỳnh, thăm cái mộ ở nghĩa địa cát, giờ đã có tấm bia đá mới, chữ khắc đàng hoàng, ông thợ đá Quy Nhơn làm hồi tháng Mười Một.
Lam xỏ dép, khoác cái áo liền quần màu xanh lá treo trên cây đinh, kéo cửa cuốn lên.
Ngoài sân, trăng mười tám còn treo lệch về phía tây, to và đục, soi xuống bãi đậu một màu bạc lạnh. Cửa xưởng mở hé một khúc. Đèn trong xưởng sáng.
Cô đi qua bãi. Cô không chạy. Cô đi bộ, đều, qua hàng xe đang đậu, qua cái vòi nước, qua cửa phòng điều hành. Cô nghe tiếng tim mình, rồi cô thôi nghe nó, vì tiếng máy át đi.
Xe số bảy nằm trên hầm số hai. Đèn ca bin sáng. Cửa ca bin mở.
Vĩnh ngồi trên ghế tài. Cái ghế ở nấc thứ năm, nấc của một người cao một mét bảy mươi hai. Anh nghe tiếng dép cô trên nền xi măng, thò đầu ra.
– Út. – Anh nói. – Anh ra hâm máy trước cho chuyến sáu giờ. Em nghe giùm anh. Cái nhịp thứ tư.
Lam đứng ở miệng hầm, nghe. Gằn. Rất nhẹ. Như người ta hụt một hơi thở giữa câu.
– Kim phun máy bốn. – Cô nói. – Muội. Mười lăm phút.
Cô với tay lên cái kệ cạnh hầm, lấy cái đèn pin đội đầu, đội lên trán, bật. Cô ngồi xuống mép hầm, thả chân xuống, rồi trượt người xuống, nằm ngửa trên cái bàn trượt bánh xe, đẩy mình vào bên dưới bụng chiếc xe số bảy.
Phía trên đầu cô, cái bụng xe đen trũi, hơi máy ấm, mùi dầu, mùi nhớt. Một giọt nhớt đọng ở đầu con ốc xả, rung rung theo nhịp máy.
Cô đưa tay vào túi quần bên phải. Cái tua vít hai đầu ngắn ngủn. Hai cái cổ dê. Cô rút cái tua vít ra.
– Anh tắt máy đi anh Vĩnh.
Tiếng máy tắt. Xưởng im phắc.
Lúc đó cô mới nghe tiếng tim mình. Đều. Chậm. Như tiếng một cái máy đã chỉnh xong.
— Hết —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe