AI Truyện
Chiếc xe số bảy trong di chúc

🏠 Gia đình & vả mặt

Ghế số chín

Chiếc xe số bảy trong di chúc · Chương 26/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 26: Ghế số chín

Tờ báo tỉnh ra ngày mười bảy tháng Tám năm một nghìn chín trăm chín mươi sáu dành cho vụ Cù Mông đúng một cột, ở trang ba, kẹp giữa tin mùa màng và một cái quảng cáo phân bón.

Luật sư Thư chụp lại nó bằng điện thoại ở phòng đọc báo cũ của thư viện tỉnh, gửi cho Lam lúc chín giờ sáng thứ Tư, kèm một dòng: "Đọc kỹ tên người bị thương."

Lam phóng to tấm ảnh trên màn hình điện thoại, đứng dưới tấm bạt xanh của xưởng, hai tay còn dính mỡ bò. Chữ in trên giấy báo cũ đã mờ, nhòe, phải đọc từng chữ.

"…Khoảng một giờ bốn mươi phút rạng sáng ngày mười lăm tháng Tám, xe khách mang số hiệu 07 của hợp tác xã vận tải gặp nạn trên đèo Cù Mông. Xe chạy tuyến Quảng Ngãi – thành phố Hồ Chí Minh, khi lên gần đỉnh đèo đã bất ngờ lao qua lề đường, lật xuống taluy âm sâu khoảng mười lăm mét. Vụ tai nạn làm năm người chết, trong đó có tài xế T.V.Đ., hai mươi sáu tuổi. Theo kết quả điều tra ban đầu, nguyên nhân có thể do tài xế buồn ngủ, mất kiểm soát tay lái. Mười một người bị thương được đưa vào cấp cứu tại bệnh viện ở Tuy Hòa, trong đó có chủ xe là ông L.V.C., phụ xe Đ.V.L. và một số hành khách…"

Bên dưới có một danh sách ngắn, chừng chục cái tên, kèm tuổi và quê. Lam dò tay xuống. Tên thứ bảy.

"Mạc Thị Phương Thảo, mười tám tuổi, quê Mộ Đức, tân sinh viên."

Cô kéo xuống. Thư gửi thêm tấm ảnh thứ hai, chụp một bài báo khác, ra một tuần sau, ở trang tư. Cái tít in đậm: "Người chủ xe gãy xương sườn vẫn cõng hành khách lên đường." Có một tấm ảnh nhỏ, đen trắng, nhòe, một người đàn ông to con nằm trên giường bệnh, ngực quấn băng.

Lam đứng nhìn tấm ảnh nhỏ đó một lúc. Rồi cô tắt màn hình.

Tối thứ Tư, Thư gọi.

– Chị tìm ra rồi. – Thư nói. – Mạc Thị Phương Thảo. Năm đó vô Sài Gòn học sư phạm, ra trường về dạy văn. Hai mươi năm nay dạy ở một trường cấp ba ở Quy Nhơn. Chị nhờ một đứa bạn học cũ làm bên ngành giáo dục hỏi giùm. Chị đã gọi cho cô ấy.

– Cô ấy nói sao chị?

– Cô ấy im rất lâu. – Thư nói. – Rồi cô ấy hỏi chị một câu. Cô ấy hỏi: "Người tài xế đó có con không?"

Lam ngồi trên cái chõng tre, điện thoại áp tai.

– Chị nói có. – Thư nói. – Cô ấy hẹn em sáng thứ Bảy. Tới nhà cô ấy. Một mình em.

Nhà cô Thảo nằm trong một con hẻm nhỏ gần biển ở Quy Nhơn, một trệt một lầu, sơn màu vàng nhạt. Trước sân có một giàn hoa giấy đỏ rực, một chiếc xe đạp cũ dựng sát tường. Chín giờ sáng thứ Bảy, Lam bấm chuông. Người ra mở cổng là một người đàn bà gầy, tóc cắt ngắn, đeo kính gọng đen, mặc bộ đồ bộ màu xanh nhạt. Trên trán bà, sát chân tóc bên trái, có một vết sẹo dài, mảnh, màu nhạt hơn da.

– Lam phải không con?

– Dạ.

Cô Thảo nhìn cô lâu, như người ta nhìn một học trò mới đầu năm học, cố nhớ cái mặt cho khỏi lẫn.

– Vô nhà đi con.

Phòng khách nhỏ, mát, tường treo mấy tấm bằng khen của ngành giáo dục, một kệ sách cao tới trần. Trên bàn đã có sẵn một ấm trà, hai cái tách, một đĩa bánh in. Cô Thảo rót trà, đặt tách trước mặt Lam, rồi ngồi xuống đối diện, hai tay đan vào nhau đặt trên đầu gối. Bà nói chậm, rõ, từng chữ tròn trịa, cái giọng của người đứng lớp hai mươi mấy năm.

– Con hỏi đi. Cô trả lời những gì cô nhớ. Cái gì cô không nhớ, cô nói không nhớ. Cái gì cô không thấy, cô nói không thấy.

Lam lấy trong túi áo ngực ra tấm ảnh trắng đen. Người đàn ông nhỏ con mặc áo ba lỗ, giơ hai ngón tay, đứng cạnh cửa xe số 07. Cô đặt nó lên bàn, xoay về phía cô Thảo.

Cô Thảo cúi xuống nhìn. Bà không cầm. Bà nhìn rất lâu, rồi bà tháo kính ra, đặt xuống cạnh tấm ảnh.

– Anh này. – Bà nói. – Anh này nói chuyện với cô.

– Dạ.

– Ghế cô là ghế số chín. Hàng thứ ba, bên phải, sát cửa sổ. Vé má cô mua ở bến Quảng Ngãi, ghi số bằng bút bi đỏ. Cô nhớ rõ vì đó là lần đầu tiên cô đi xe khách xa nhà. – Cô Thảo nói. – Xe chạy lúc bốn giờ chiều. Anh này lái. Ảnh nhỏ con, ngồi ghế tài phải nhích người ra trước. Ảnh cười suốt, cái răng khểnh. Ảnh hỏi cô đi đâu, cô nói vô Sài Gòn nhập học. Ảnh nói hay quá, mai mốt con ảnh cũng phải đi học đại học.

Lam cầm tách trà lên, không uống, đặt xuống.

– Tới Sa Huỳnh thì trời chạng vạng. Xe dừng ăn cơm ở một cái quán ven đường. – Cô Thảo nói tiếp. – Cô không có tiền ăn quán, má cô gói theo cơm nắm. Cô ngồi trên xe ăn. Anh này lên xe lấy cái gì đó, thấy cô ngồi một mình, ảnh đưa cô một trái chuối. Rồi ảnh nói ảnh đi ngủ đây, tối nay ông chủ lái. Ảnh đi ra băng sau.

– Ông chủ lái. – Lam lặp lại.

– Ừ. Lúc đó cô không hiểu sao. Cô cũng không hỏi. Cô mười tám tuổi, lần đầu đi xa. – Cô Thảo gõ nhẹ ngón tay lên đầu gối. – Trước khi nằm xuống, ảnh mở cái túi ni lông, lấy ra khoe với ông lơ xe ngồi gần đó một đôi giày nhỏ xíu. Màu vàng. Cô ngồi ghế số chín, quay ra sau thấy được. Ảnh nói con tui sắp ra đời đó, mua ở chợ Bà Chiểu. Ông lơ xe cười, nói mua sớm dữ vậy. Ảnh nói sớm đâu mà sớm, sáu tháng nữa.

Lam không nói được gì. Cô chỉ gật đầu.

– Xe chạy lại thì trời tối hẳn. Người lái là một người đàn ông khác. – Cô Thảo nói. – To con. To lắm. Ông ngồi ghế tài mà cái đầu gần đụng trần ca bin. Ông lùi ghế ra sau hết cỡ, cô nghe tiếng cái ghế trượt cạch cạch. Ông mở băng cát-xét, nhạc vàng, một giọng nam hát về mưa. Ông hát theo. Hát to. Hát lạc giọng. Cả xe có người bực, có người cười. Cô thì nhớ, vì cô ngồi hàng thứ ba, chéo sau lưng ông, cứ mỗi lần ông với tay đổi băng thì cô thấy cái tay ông.

– Cái tay ông sao cô?

– Có một cái nhẫn. – Cô Thảo nói. – Đeo ở ngón áp út, tay phải. Mặt đá đỏ. Đèn táp lô màu xanh lè, mà cái mặt đá đó thì đỏ, đỏ như một đốm lửa. Ông với tay đổi băng, cái đốm đỏ đó chạy ngang qua cái đèn xanh. Cô nhìn nó suốt tới Quy Nhơn. Cô mười tám tuổi, cô chưa thấy ai đeo cái nhẫn đẹp vậy.

Lam đặt hai bàn tay lên đùi. Cô thấy hai bàn tay mình lạnh, dù trời Quy Nhơn tháng Năm nóng như rang.

– Tới Quy Nhơn, xe đậu rất lâu. Chờ hàng gì đó. Ông to con xuống xe, đi qua đi lại, nói điện thoại công cộng, la lối. Rồi xe chạy. Lúc đó chắc đã quá nửa đêm. – Cô Thảo nói. – Cô ngủ.

Bà ngưng một lúc. Bà nhìn ra cửa sổ, nhìn giàn hoa giấy đỏ.

– Cô tỉnh dậy ở bệnh viện, ba ngày sau. Cái trán khâu mười hai mũi. Má cô ngồi bên giường. Má cô nói xe rớt đèo, chết năm người, mình còn sống là phước. Một tuần sau, má cô đọc báo cho cô nghe. Báo nói tài xế T.V.Đ. ngủ gật. Cô hỏi má, ai là T.V.Đ. Má cô nói là cái anh tài xế trẻ, người Sa Huỳnh.

– Cô có nói gì không cô?

– Cô nói với má cô là tối đó ông chủ lái, không phải anh trẻ. – Cô Thảo nói. – Má cô bảo chắc tụi nó đổi tài lúc con ngủ. Má cô bảo con đừng có dính vô, con lo đi học. Cô nghe má. Cô nghĩ chắc má nói đúng. Xe rời Quy Nhơn là cô ngủ, từ đó tới Cù Mông còn hai ba chục cây số, tụi nó đổi tài lúc nào cô làm sao biết.

Bà đeo kính lên lại. Bà nhìn thẳng vào Lam.

– Cô dạy văn hai mươi sáu năm. – Bà nói. – Cô dạy học trò đọc kỹ từng chữ, đọc cả cái chữ người ta không viết ra. Mà cái đêm đó, cô không dám đọc kỹ. Cô sợ đọc ra cái gì đó. Cô xin lỗi con.

– Cô không có lỗi gì hết.

– Có. – Cô Thảo nói. – Cô có. Hai mươi sáu tuổi, cái anh trẻ đó. Người ta gọi ảnh là kẻ giết người ba chục năm. Cô biết tối đó ảnh không lái. Cô biết ảnh nằm băng sau với đôi giày vàng. Cô không thấy lúc xe rớt, đúng. Nhưng cô thấy đủ để mà hỏi. Cô không hỏi.

Hai người ngồi im. Ngoài hẻm, có tiếng rao bán bánh xèo, tiếng một đứa con nít khóc.

– Cô Thảo. – Lam nói. – Nếu có người cần cô kể lại những gì cô thấy, cô có kể không?

Cô Thảo nhìn tấm ảnh trắng đen trên bàn. Người đàn ông nhỏ con với cái răng khểnh, giơ hai ngón tay.

– Cô sẽ viết ra. – Bà nói. – Viết đúng những gì cô thấy. Không thêm một chữ. Ký tên, đi chứng thực. Ai cần thì đưa. Cô chỉ kể những gì cô thấy, con hiểu không? Cô không thấy lúc xe rớt.

– Dạ. Con hiểu.

Cô Thảo đứng dậy, đi tới kệ sách, rút ra một cuốn sổ tay bìa cứng đã cũ. Bà mở ra, lấy ra một cái vé xe khách nhỏ bằng hai ngón tay, giấy pơ-luya màu hồng, đã ố vàng. Trên vé có con số chín viết bằng bút bi đỏ.

– Ba chục năm cô giữ cái này. – Bà nói. – Cô không biết giữ để làm gì. Giờ cô biết.

Trên đường về, Lam ngồi trên xe máy, chạy chậm. Qua Bình Đê, cô tấp vô một cái quán nước ven đèo, ngồi nhìn xuống thung lũng. Điện thoại rung. Thư.

– Gặp rồi?

– Dạ.

– Chị không hỏi gì hết. Tối về em kể. – Thư nói. – Chị gọi để báo một chuyện khác. Tòa vừa gửi giấy triệu tập. Phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ và hòa giải. Sáng thứ Ba, hai tháng Sáu. Có mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi liên quan.

– Anh Hai có tới không chị?

– Nguyên đơn thì phải tới. – Thư nói. – Em chuẩn bị tinh thần. Hòa giải thì người ta hay nói những câu khó nghe nhất.

Lam cúp máy. Cô ngồi trên cái ghế nhựa ở quán nước, nhìn xuống con đèo. Một chiếc xe khách giường nằm đang bò lên dốc, chậm chạp, khói đen phụt ra đuôi. Trên tay tài xế, cô không nhìn thấy gì, xa quá.

Cô nghĩ tới cái đốm đỏ chạy ngang qua cái đèn táp lô màu xanh, ba mươi năm trước, trên một chiếc xe chạy đêm. Cô nghĩ tới cái đốm đỏ đó bây giờ, nằm trên ngón áp út tay phải anh Hai Hưng, lỏng lẻo, mỗi lần anh khoát tay là trượt xuống tận khớp.

— Hết chương 26 —

Mục lục Chiếc xe số bảy trong di chúc

  1. 1Máy còn nổ ở hầm số hai11 phút
  2. 2Xe tang chết máy trên cầu Bàu Giang11 phút đọc
  3. 3Ba mươi năm không có số bảy11 phút đọc
  4. 4Ông khách đi xe màu bạc10 phút đọc
  5. 5Bảng kê mười sáu chiếc xe10 phút đọc
  6. 6Bốn cái tên ở khúc cua11 phút đọc
  7. 7Những dòng chi khác10 phút đọc
  8. 8Một cái tên trên trích lục12 phút đọc
  9. 9Ngày hai mươi mốt11 phút đọc
  10. 10Bộ vest xám ở phường Cẩm Thành10 phút đọc
  11. 11Ki-ốt cơm ở góc cổng11 phút đọc
  12. 12Mối hàn ba mươi năm10 phút đọc
  13. 13Ghế tài lùi nấc cuối10 phút đọc
  14. 14Cô Sen ở làng chài10 phút đọc
  15. 15Bãi đậu không phải bến10 phút đọc
  16. 16Bà Tám Dưỡng kể9 phút đọc
  17. 17Đường ra Đà Nẵng10 phút đọc
  18. 18Không cùng một dòng máu10 phút đọc
  19. 19Con của Tạ Văn Đức12 phút đọc
  20. 20Xưởng Út Lam11 phút đọc
  21. 21Tờ cọc sáu tỷ11 phút đọc
  22. 22Ray ghế ở nấc cuối11 phút đọc
  23. 23Năm sào ruộng mặt đường11 phút đọc
  24. 24Người lơ xe ven đầm Ô Loan10 phút đọc
  25. 25Ba triệu mỗi tháng10 phút đọc
  26. 26Ghế số chín10 phút đọc
  27. 27Buổi hòa giải ở tòa11 phút đọc
  28. 28Quáng gà11 phút đọc
  29. 29Cuộc gọi lúc ba giờ sáng10 phút đọc
  30. 30Mười sáu chiếc xe đứng yên10 phút đọc
  31. 31Phần của má10 phút đọc
  32. 32Bàn tiệc Đại Phong10 phút đọc
  33. 33Đơn rút10 phút đọc
  34. 34Cái tên thứ năm10 phút đọc
  35. 35Xe số bảy lăn bánh10 phút đọc
  36. 36Giỗ đầu10 phút đọc

Về truyện này

Chiếc xe số bảy trong di chúc là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Khánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →