Chương 34: Cái tên thứ năm
Người thợ đá tới khúc cua gần đỉnh Cù Mông lúc năm giờ rưỡi sáng Chủ nhật, chở trên baga xe máy một cái máy khắc cầm tay, một cuộn dây điện, một bình ắc quy. Ông ngồi chờ ở cái ghế đá cạnh miếu cho tới khi mọi người tới đủ.
Ông là người Quy Nhơn, làm nghề đá ba mươi năm, ở một làng đá có tiếng gần thành phố. Luật sư Thư tìm ra ông. Ông nghe chuyện qua điện thoại, im một lúc, rồi nói ông lấy tiền xăng thôi.
Sáu giờ, hai chiếc xe đỗ ở khoảng trống có cái mái tôn bỏ hoang. Chiếc xe đỏ đô của anh Tư chở bà Bảy, ông Chín Lộc, cô Sen. Chiếc xe bảy chỗ chị Ba mượn của chị Liên chở anh Hai, chú Năm Trọng, Lam.
Ông Chín Lộc là người xuống xe sau cùng. Anh Tư đỡ ông. Ông chống nạng, đứng ở mép đường, nhìn lên khúc cua. Cái lan can thép mới sơn vạch trắng đỏ. Cái miếu nhỏ mái ngói. Tấm bia đá đứng nghiêng. Ba mươi năm ông chưa đặt chân lại chỗ này.
Ông đứng đó rất lâu. Không ai giục.
Bà Ngộ đã quét xong. Bà ngồi trên cái ghế đá, cây chổi chà dựng bên chân, cái giỏ nhựa đặt dưới đất. Bà thấy cả đoàn người đi lên. Bà không đứng dậy. Hai con mắt đục của bà dò từng cái mặt, dừng lại ở Lam, ở người đàn bà già mặc áo tràng lam đi cạnh Lam, rồi ở ông già mất một chân đang chống nạng.
– Thằng Lộc. – Bà Ngộ nói.
Ông Chín Lộc khựng lại.
– Thằng lơ xe. – Bà Ngộ nói. – Năm đó tao lên bệnh viện Tuy Hòa. Mày nằm giường sát cửa. Mày không dám nhìn tao.
– Dạ. – Ông Chín Lộc nói. Giọng ông khàn đặc. – Con không dám.
Bà Bảy đi tới trước tấm bia. Bà đứng một lúc, đọc bốn cái tên. Rồi bà quay lại, đi tới trước cái ghế đá, nơi bà Ngộ ngồi. Hai bà già. Một người bảy mươi, một người tám mươi. Một người áo tràng lam, tóc búi gọn. Một người áo bà ba nâu, lưng còng, cái nón lá đặt trên đùi.
Bà Bảy quỳ xuống.
Không ai kịp cản. Anh Hai bước tới một bước, rồi dừng lại. Bà Bảy quỳ trên nền xi măng còn ướt sương, hai tay đặt lên đùi. Như cái ngày con Lựu quỳ trước cái lều bạt ba mươi năm trước. Như cái ngày Lam quỳ ở chính chỗ này hai tháng trước.
– Thưa bà. – Bà Bảy nói. – Tui là vợ ông Lương Văn Cự. Chủ chiếc xe số bảy.
Bà Ngộ nhìn bà, không nhúc nhích.
– Đêm mười bốn tháng Tám năm chín sáu, chồng tui lái. – Bà Bảy nói. Giọng bà nhỏ, đều, mỗi chữ rơi xuống nền xi măng. – Chồng tui ngủ gục. Cái thằng nhỏ tên Đức nằm băng sau, ôm đôi giày len mua cho con nó. Nó không lái. Chồng tui lôi nó lên chỗ ghế tài, rồi khai nó lái. Ba giờ sáng chồng tui gọi về cho tui, nói với tui. Ba mươi năm tui biết. Tui im.
Bà Ngộ không nói gì.
– Con bà chết vì chồng tui. – Bà Bảy nói. – Không phải vì thằng Đức. Tui tới đây nói với bà câu đó. Chồng tui ba mươi năm không dám nói. Chồng tui chết rồi. Tui nói thay.
Gió từ thung lũng thổi lên. Mấy cây nhang buổi sáng trong bát sành lóe đỏ.
Bà Ngộ chống tay lên cán chổi, đứng dậy. Cái lưng còng của bà không thẳng được, nên bà đứng cúi xuống nhìn bà Bảy đang quỳ, cái mặt nhăn nheo của bà gần sát mặt bà Bảy.
– Ổng lên đây. – Bà Ngộ nói. – Mỗi năm. Ba chục năm. Ngồi cái ghế này tới sáng. Tao thấy tàn thuốc. Tao tưởng ổng là người tử tế. Tao tưởng ổng thương cho thằng Tài nhà tao, thương cho khách của ổng. Ba chục năm tao tưởng.
Bà dừng lại. Bà thở.
– Ổng không phải thương. – Bà nói. – Ổng sợ. Ổng lên đây ngồi vì ổng sợ.
– Dạ. – Bà Bảy nói.
– Tao không tha cho ổng. – Bà Ngộ nói. – Chết rồi tao cũng không tha. Bà nghe chưa?
– Dạ. Tui nghe.
Bà Ngộ nhìn bà Bảy thêm một lúc. Rồi bà làm một việc không ai ngờ. Bà đưa bàn tay gầy guộc, đen sạm, đầy đồi mồi, ra nắm lấy cánh tay bà Bảy.
– Đứng dậy. – Bà nói. – Bà không có tội lái xe. Bà có tội im. Tội im thì bà gánh. Đứng dậy mà gánh. Quỳ đây làm chi.
Anh Hai bước tới, đỡ mẹ mình đứng dậy. Bà Ngộ nhìn anh.
– Mày là con ổng.
– Dạ. – Anh Hai nói. – Con là con trai cả.
Anh cúi đầu. Cúi thấp, thấp hơn cả lúc anh cúi lạy khách viếng ở đám tang ba, thấp tới mức Lam thấy cái vệt trắng nhạt trên ngón áp út tay phải anh lúc anh chắp tay.
– Mày không có tội. – Bà Ngộ nói. – Mày cúi đầu với tao làm gì. Đi chỗ khác.
Bảy giờ, thêm hai chiếc xe máy leo lên con đèo cũ, đỗ cạnh mái tôn. Một người đàn bà chừng ba lăm, mặc áo dài trắng của giáo viên. Một người đàn ông ngoài ba mươi lăm, đội nón bảo hộ màu vàng, mặc áo công trình, như vừa đi từ công trường tới.
Chị Ba là người mời họ. Chị lấy địa chỉ từ những lá thư trong cái hộp thiếc dưới tủ ông Bảy, lần qua mấy cái Hội Khuyến học, gọi từng cuộc điện thoại. Chị không nói gì nhiều qua điện thoại. Chị chỉ nói: ba tôi là nhà hảo tâm không nêu tên. Ba tôi đã mất. Có một chuyện ba tôi chưa nói.
Trần Thị Mai, con gái bà Lê Thị Bông, đứng trước tấm bia, đặt tay lên cái tên mẹ mình. Phạm Hữu Phước, con trai ông Phạm Hữu Nghĩa, tháo cái nón bảo hộ ra, cầm trên tay.
Chị Ba nói với họ. Nói ngắn, nói đúng, như đọc một bảng đối chiếu. Mai nghe tới đâu, nước mắt chảy tới đó. Phước đứng im, không chớp mắt.
– Mười hai năm con đi học bằng tiền ổng. – Mai nói, khi chị Ba dứt. – Con vẽ thiệp cám ơn ổng. Con không biết bây giờ con phải cám ơn hay phải giận.
– Chị không cần phải biết liền. – Chị Ba nói.
Phước không nói gì. Anh đi vòng quanh tấm bia một vòng, ngồi xổm xuống nhìn cái chân bia lún nghiêng, lấy tay gõ gõ lên cái đế xi măng. Rồi anh đứng dậy, nói với Lam, như nói chuyện công việc.
– Chân đế lún vì nước mưa xói. Ba chục năm không ai gia cố. Cô cho phép, tuần sau tôi mang thợ lên đổ lại cái đế, dựng thẳng nó lên.
– Dạ, anh hỏi bà Ngộ. – Lam nói. – Bia của bà.
Phước quay sang bà Ngộ. Bà Ngộ gật đầu, một cái.
Rồi tới lượt Lam.
Cô đi tới trước tấm bia. Cô không quỳ. Cô đứng, nhìn cái khoảng đá trống bên dưới cái tên thứ tư. Khoảng đá mài nhẵn, rêu bám một lớp mỏng ở mép.
– Bà Ngộ. – Cô nói. – Con xin bà một chuyện. Khúc đá dư này, con xin bà cho khắc thêm một cái tên.
Bà Ngộ không trả lời. Bà nhìn khúc đá trống. Bà nhìn lâu, lâu lắm. Mọi người đứng quanh không ai dám thở mạnh. Người thợ đá ngồi trên cái ghế đá, hai tay đặt lên cái máy khắc, chờ.
– Năm đó thằng thợ hỏi tao khắc mấy tên. – Bà Ngộ nói. – Tao nói bốn. Nó nói đá còn dư một khúc. Tao nói để đó. – Bà ngưng. – Ba chục năm tao không biết tao để đó cho ai.
Bà quay sang người thợ đá.
– Khắc đi.
Người thợ đá đứng dậy. Ông nối dây điện vào bình ắc quy, kiểm cái mũi khắc, rồi quỳ một chân xuống trước tấm bia. Lam đưa cho ông tờ giấy cô viết sẵn từ tối qua, nắn nót bằng bút bi, từng chữ một. Ông đọc, gật đầu, kẻ phấn lên mặt đá.
Tiếng máy khắc rè rè vang lên giữa khúc đèo vắng. Bụi đá trắng bay ra từng sợi nhỏ, bám lên tay người thợ, bám lên cái chân bia. Một nét. Hai nét. Mỗi nét như một tiếng thở.
Cô Sen đứng sau lưng Lam. Chị ta không khóc thành tiếng, chỉ nắm chặt lấy vạt áo Lam, nắm tới mức cái vải nhăn lại trong lòng bàn tay chị ta. Ông Chín Lộc đứng tựa vào cái lan can, cây nạng gỗ kẹp dưới nách, nhìn từng chữ hiện ra. Chú Năm Trọng rút điếu thuốc rê trên vành tai xuống, không châm, cầm trên tay.
Hai mươi phút sau, người thợ đá tắt máy. Ông lấy cái chổi sơn phủi sạch bụi đá. Ông lấy cái hũ sơn đen nhỏ, cây cọ nhỏ, tô vô từng nét chữ.
Dưới cái tên Đoàn Văn Lành, năm mươi tám tuổi, giờ có thêm một dòng.
Tạ Văn Đức, hai mươi sáu tuổi.
Nét sơn còn ướt, đen bóng, mới hơn bốn cái tên phía trên ba mươi năm.
Cô Sen buông vạt áo Lam ra. Chị ta đi tới, quỳ xuống trước tấm bia, đưa tay chạm lên cái tên mới, rồi rụt tay lại vì sơn còn ướt. Đầu ngón tay chị ta dính một vệt đen. Chị ta nhìn cái vệt đen đó, rồi chị ta khóc, khóc ra tiếng, cái tiếng khóc mặn, khàn, như tiếng sóng đập vào mạn ghe.
Bà Ngộ đứng dậy khỏi ghế đá. Bà cúi xuống cái giỏ nhựa, lấy ra một bó nhang. Bà rút một cây. Bà châm. Bà chống cây chổi chà đi tới trước tấm bia, cúi cái lưng còng xuống thấp hơn nữa, thấp gần sát đất.
Bà cắm cây nhang xuống kẽ đất ngay dưới cái tên thứ năm. Cạnh cây nhang bà vẫn cắm riêng mỗi sáng dưới cái tên Nguyễn Văn Tài.
– Tao thắp cho thằng nhỏ. – Bà nói, không với ai. – Không phải cho ổng.
Bà quay đi, chống chổi đi xuống con đường mòn dưới lan can. Cái nón lá nhấp nhô giữa mấy bụi lau, rồi khuất.
Lam đứng trước tấm bia. Năm cái tên. Mấy cây nhang trong bát, hai cây cắm dưới chân bia. Khói bay lên thẳng, rồi gió từ thung lũng thổi tới, khói nghiêng đi, tan vào cái nắng buổi sáng.
Ông Chín Lộc chống nạng tới đứng cạnh cô. Ông nhìn cái tên mới, rồi nhìn ra mép lan can, nhìn xuống thung lũng.
– Hồi đó chỗ này chưa có lan can. – Ông nói. – Chỉ có mấy cục đá sơn trắng, cục cách cục cả chục thước.
Ông đặt bàn tay lên thanh thép, vỗ nhẹ hai cái, như người ta vỗ lưng một người quen lâu ngày mới gặp lại. Rồi ông chống nạng lùi về chỗ cũ.
Cô không khóc. Cô đọc cái tên thứ năm một lần, thành tiếng, đủ cho mình nghe.
– Ba.
— Hết chương 34 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe