Chương 14: Cô Sen ở làng chài
Tới chiều thứ Bảy, cả cái bến đã có một câu chuyện mới, và câu chuyện mới tệ hơn câu chuyện cũ.
Câu chuyện cũ là: con nhỏ thợ là con rơi của ông Bảy với chị Lựu bán cơm. Câu chuyện mới là: chị Lựu bán cơm là vợ của thằng tài xế lái chiếc xe số bảy, cái thằng ngủ gật làm chết năm người trên đèo Cù Mông. Chồng chết chưa lạnh, chị ta đã ôm bụng về bán cơm ở cổng bến của ông chủ. Đứa nhỏ sinh ra, cả phường nhìn mặt nó là biết con ai.
Lam nghe câu chuyện đó từ ba người khác nhau trước khi trời tối. Người thứ ba là chú Tấn xe 03. Chú không nói với cô. Chú nói với mấy người ngồi quanh mâm cơm chiều sau dãy phòng tài xế, nói to.
– Ông Bảy nuôi vợ con thằng làm chết người. Nuôi thì nuôi, đằng này còn… – Chú ngưng, vì có người huých cùi chỏ, nhưng câu thì ai cũng tự nói tiếp được.
Lam đi qua mâm cơm, không dừng lại. Cô về ki-ốt, kéo cửa cuốn xuống, ngồi trên cái chõng tre trong bóng tối. Ngoài đường, xe tải chạy qua, mái tôn rung.
Cô làm một phép tính mà cả đời cô chưa từng muốn làm. Cô sinh ngày hai mươi tháng Hai năm chín bảy. Chiếc xe số bảy rớt xuống đèo đêm mười bốn tháng Tám năm chín sáu. Lúc đó má cô đã mang thai cô được ba tháng. Nếu cô là con ông Bảy, như cả phường tin, như chính cô đã nửa tin nửa ngờ suốt hai mươi chín năm, thì cái thai đó có từ tháng Năm năm chín sáu. Lúc ấy chồng má còn sống. Còn chạy xe cho ông Bảy. Còn mua giày len ở chợ Bà Chiểu.
Cô ngồi đó cho tới khi cái bụng cô quặn lại. Cô chạy ra sau ki-ốt, ói hết tô cháo buổi trưa xuống cái rãnh nước.
Sáng Chủ nhật, cô lôi cái hộp thiếc dưới gầm chõng ra.
Đó là một cái hộp bánh quy cũ, hình vuông, nắp in hoa hồng đã tróc sơn. Má cô cất trong đó những thứ má không muốn để lẫn với đồ khác. Sau đám tang má, Lam mở nó ra một lần, thấy toàn giấy tờ, rồi đóng lại, nhét dưới gầm giường, mười bốn năm không mở. Cô sợ. Cô không biết mình sợ cái gì.
Bên trong vẫn y như cô nhớ. Chứng minh nhân dân cũ của má, tấm ảnh má hồi mười tám tuổi chụp ở tiệm. Một cái nhẫn bạc mỏng đã đen. Giấy chứng tử của má. Giấy khai sinh bản chính của Lam, tờ giấy mỏng đã ố. Một xấp biên lai đóng tiền điện.
Và dưới đáy hộp, úp mặt xuống, là hai tấm ảnh mà mười bốn năm trước cô không lật lên coi.
Tấm thứ nhất là ảnh cưới. Ảnh màu đã phai, chụp trước một tấm phông vẽ cảnh hồ có cây liễu. Má cô mặc áo dài đỏ, đội khăn vấn, cười bẽn lẽn. Đứng bên má là một người đàn ông trẻ, sơ mi trắng, quần tây, tóc chải bóng, cười toe toét tới mức thấy cả cái răng khểnh. Anh ta không cao hơn má cô bao nhiêu. Má cô một mét năm mươi lăm, bằng cô bây giờ. Người đàn ông đó chỉ nhỉnh hơn má cỡ ba ngón tay.
Mặt sau tấm ảnh, chữ má cô: "Lựu – Đức, 1994".
Tấm thứ hai là ảnh trắng đen, nhỏ hơn. Cũng người đàn ông đó, mặc áo thun ba lỗ, quần đùi, đứng cạnh cửa trước của một chiếc xe khách. Một tay anh vịn vào tay nắm cửa, tay kia giơ lên làm dấu chữ V. Anh vẫn cười cái kiểu toe toét đó. Sau lưng anh là cái thân xe sơn trắng sọc tối, dưới hàng cửa sổ là hai con số sơn đen: 07. Đỉnh đầu anh mới tới ngang mép dưới cái kính cửa lên xuống. Cái gương chiếu hậu chĩa ra phía trên, cao hơn đầu anh một khúc dài.
Mặt sau: "Anh Đức – xe 07 – tháng 3 năm 1996".
Lam cầm tấm ảnh trắng đen đó lâu tới mức hai đầu ngón tay cô để lại hai dấu mồ hôi trên mép giấy. Người đàn ông nhỏ con cười toe toét đứng cạnh chiếc xe mà hôm qua cô vừa leo vào. Năm tháng sau khi tấm ảnh này được chụp, anh ta chết trong chiếc xe ấy, và cả một vùng nhớ tên anh ta như nhớ tên một kẻ giết người.
Cô không biết anh ta là gì của mình. Cô chỉ biết trên giấy khai sinh, anh ta là cha cô.
Trưa đó, cô ra sạp bà Tám.
– Bà Tám, nhà anh Đức ở đâu bà biết không?
Bà Tám Dưỡng đang ngồi lặt rau muống, ngừng tay.
– Con tính đi kiếm hả?
– Dạ.
Bà Tám nhìn cô lâu. Rồi bà thở dài.
– Nhà nó ở dưới làng chài, phía nam Sa Huỳnh, qua khỏi mấy cái ruộng muối. Ông bà già nó mất hết rồi, mất cách đây cũng chục năm. Còn con em gái nó, con Sen, bán cá ở bến ghe. – Bà ngưng một chút. – Con Sen nó ghét má con lắm. Ghét từ hồi đó tới giờ. Con đi thì con chịu khó.
Sáng thứ Ba, Lam chạy xe máy xuống Sa Huỳnh.
Sáu chục cây số Quốc lộ, qua Đức Phổ, qua những cánh đồng lúa đông xuân đã chín vàng. Có chỗ người ta đang gặt, máy gặt đập liên hợp bò trên ruộng như những con bọ cánh cam khổng lồ. Rồi lúa thưa dần, đất chuyển sang màu cát. Rồi tới ruộng muối. Những ô ruộng vuông vức, nước trong vắt, đáy ruộng trắng lóa, mấy người đàn bà đội nón lá cào muối thành từng đống nhỏ như những ụ tuyết. Gió biển thổi vào mặt mặn chát.
Làng chài nằm sau một rặng phi lao. Đường bê tông nhỏ, hai bên nhà mái tôn thấp, sân nhà nào cũng phơi cá cơm trên những tấm lưới, mùi cá khô nồng nặc. Lam hỏi đường ba lần mới tới được bến ghe.
Bến ghe lúc tám giờ sáng đã vãn. Mấy chiếc ghe máy sơn xanh đỏ nằm phơi bụng trên bãi cát. Mấy cái thúng chai úp ngược. Dưới một cái chòi lá có mấy người đàn bà ngồi bên những rổ cá, lựa cá. Lam đi tới.
– Dạ, cho con hỏi cô Sen.
Một người đàn bà ngẩng lên. Năm mươi mấy tuổi, da đen bóng vì nắng biển, khăn rằn quấn đầu, tay đeo găng cao su đỏ. Cái mặt chị ta, Lam nhận ra ngay, có cái răng khểnh. Không phải cái răng khểnh cười toe toét. Cái răng khểnh của một cái miệng mím chặt.
– Tao là Sen. Mày ai?
– Dạ, con là Lam. Con của má Lựu.
Người đàn bà đứng dậy. Mấy người đàn bà khác ngừng tay lựa cá.
Cô Sen nhìn Lam từ đầu xuống chân, từ chân lên đầu. Nhìn mặt cô thật lâu. Lam biết chị ta đang nhìn gì. Ai gặp cô cũng nói cô giống má, giống như đúc, từ cái trán dô tới cái cằm nhọn.
– Con của con Lựu. – Cô Sen nói. – Mày xuống đây làm gì?
– Dạ, con muốn hỏi cô về… về anh Đức.
– Anh Đức! – Cô Sen bật cười, cười không có chút gì vui. – Mày gọi ảnh là anh Đức. Ừ, gọi vậy là đúng. Ảnh có phải ba mày đâu.
Lam đứng yên trên bãi cát.
– Con không biết, cô Sen.
– Mày không biết. Cả cái tỉnh này biết. – Cô Sen tháo găng tay ra, đập xuống cái rổ cá. – Anh tao chết trên cái xe đó, không kịp trối một câu. Người ta đổ cho ảnh làm chết người, người ta chửi tới mả cha mả mẹ nhà tao, ba má tao phải bán năm sào ruộng mặt đường đi đền cho người ta. Còn má mày? Má mày chưa đầy năm, đã ôm bụng bầu lên ở cái bến của thằng chủ, bán cơm, ăn sữa thằng chủ mua cho. Đứa nhỏ sinh ra thì mặt mũi ai cũng biết. Con ông Bảy thì không phải cháu tao. Mày về đi.
– Cô Sen…
– Về!
Lam không về. Cô thò tay vào cái túi vải đeo chéo, lấy ra một cái túi ni lông trong mới mua, bên trong là đôi giày len vàng.
– Con tìm thấy cái này. – Cô nói. – Trong chiếc xe số bảy. Ở băng ghế cuối, dưới cái gối.
Cô Sen nhìn đôi giày. Cái miệng mím chặt của chị ta hé ra, rồi đóng lại, rồi hé ra.
Chị ta không cầm. Chị ta đứng nhìn nó, và Lam thấy cái cổ họng đen sạm của chị ta động đậy, nuốt xuống một cái gì đó rất khó nuốt.
– Ảnh gọi điện về. – Cô Sen nói, giọng khác hẳn, khàn đi. – Gọi về cái điện thoại của bưu điện xã. Ba ngày trước khi chết. Ảnh nói ảnh mua được đôi giày cho con ảnh rồi. Ảnh nói màu vàng, vì chưa biết trai hay gái, màu vàng thì trai gái gì cũng đi được. Ảnh vui lắm. Ảnh tưởng là con ảnh.
Gió biển thổi qua. Cái chòi lá xào xạc.
– Ảnh tưởng là con ảnh. – Cô Sen lặp lại, nhỏ hơn.
Rồi chị ta quay lưng. Chị ta đi ra khỏi chòi lá, đi về phía một căn nhà mái tôn nằm gần bến nhất, có cái sân phơi cá cơm trải lưới. Lam đứng lại, không biết có nên đi theo.
Tới cửa nhà, cô Sen dừng lại. Chị ta không quay đầu. Chị ta nói, đủ to để Lam đứng ngoài bãi cát nghe rõ.
– Anh Đức không lái đêm. Ảnh quáng gà. Từ nhỏ ảnh đã quáng gà, chạng vạng là nhìn không ra mặt người. Ảnh chỉ lái ban ngày, ban đêm thì ảnh ngủ băng sau. Hồi đó tao nói với công an, nói với cả làng. Không ai nghe. Người nhà thì bênh nhau, người ta nói vậy.
Cánh cửa nhà đóng lại.
Lam đứng trên bãi cát một lúc lâu. Mấy người đàn bà trong chòi lá đã cúi xuống lựa cá tiếp, không ai nhìn cô.
Cô đi ra mép nước, chỗ cát ướt và chắc. Cô ngồi xuống. Sóng tháng Tư êm, liếm vào chân cô rồi rút ra. Cô lấy trong túi áo ngực ra tấm ảnh trắng đen. Người đàn ông nhỏ con cười toe toét, giơ hai ngón tay chữ V, đứng cạnh cửa chiếc xe số bảy. Đỉnh đầu anh mới tới mép dưới tấm kính cửa lên xuống.
Quáng gà. Cô không biết quáng gà là gì cho thật rõ. Cô chỉ biết người ta hay nói vậy với những ai đi đêm hay vấp, nhìn chập choạng. Cô không biết vì sao chuyện đó quan trọng.
Cô chỉ biết là, ngồi trên bãi cát, cô không rời mắt khỏi cái tay nắm cửa trong tấm ảnh, cái tay nắm cửa mà bàn tay người đàn ông đang vịn vào. Cô đã thấy cái tay nắm cửa đó. Hôm thứ Bảy, nó còn nguyên trên cánh cửa kẹt của chiếc xe trong kho số ba. Cô đã chạm vào nó khi đi vòng quanh xe.
Nó nằm ngang ngực cô.
— Hết chương 14 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe