AI Truyện
Chiếc xe số bảy trong di chúc

🏠 Gia đình & vả mặt

Ghế tài lùi nấc cuối

Chiếc xe số bảy trong di chúc · Chương 13/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 13: Ghế tài lùi nấc cuối

Chị Trinh là người nói trước, và câu đầu tiên chị nói khi nhìn thấy chiếc xe là:

– Có vậy thôi hả?

Không ai trả lời chị. Cái túi vải đựng cái cân điện tử treo lủng lẳng trên tay chị, đung đưa, rồi đứng yên.

Ông Hai Lợi mở cuốn tập học trò, liếm đầu ngón tay, lật sang trang mới. Ông viết chậm, đọc to từng chữ cho mọi người nghe, như người ta đọc biên bản ở tổ dân phố. "Tám giờ hai mươi phút sáng ngày bốn tháng Tư năm hai ngàn hai mươi sáu. Mở kho số ba tại bến xe Cự Phát. Bên trong có một chiếc xe khách cũ, loại xe ngồi, thân sơn trắng sọc xanh, hông xe có số không bảy. Đầu xe bên trái bị hư hỏng nặng."

– Ghi là móp. – Vĩnh nói. – Đâm vô cái gì đó, móp vô.

– Móp. – Ông Hai Lợi sửa.

Lam bước vào kho. Nền kho là đất nện, khô và bụi, mỗi bước chân để lại một dấu giày rõ nét như in trên bột. Ánh nắng từ cửa hắt vào thành một vệt dài trên nền, tới ngang bánh trước của chiếc xe thì hết. Bánh xe xẹp lép, cao su đã nứt thành những đường chân chim. Cô đi một vòng quanh xe.

Đuôi xe còn nguyên. Hông phải còn nguyên, chỉ có kính cửa sổ vỡ ba ô. Hông trái thì móp từ đầu xe tới ngang cửa sổ thứ ba, kim loại gấp lại thành nếp như tờ giấy bị vò. Kính chắn gió vỡ mạng nhện nhưng chưa rớt. Dưới gầm, cô nhìn thấy trục trước gãy, một bên nhíp bung khỏi giá. Cái xe này đã lật, cô nghĩ. Lật ít nhất một vòng, rồi bị kéo lên.

Cửa lên xuống phía trước bị kẹt vì khung xe vênh. Cô đi ra đuôi, tìm cái cửa thoát hiểm phía sau. Chốt cửa rỉ nhưng còn xoay được. Cô bẩy, nó mở ra với một tiếng cạch.

– Út, coi chừng. – Vĩnh nói. – Sàn mục.

Cô leo lên. Vĩnh đưa cái đèn pin lớn.

Bên trong xe tối và nóng, không khí đặc như trong cái lu đậy nắp. Bốn mươi lăm cái ghế ngồi bọc da simili màu nâu, nhiều cái đã bung khỏi chân, đổ nghiêng, chồng lên nhau ở phía trước. Lớp da bọc nứt toác, lòi ra mút vàng đã mục thành bột. Sàn xe phủ một lớp bụi dày, lẫn mảnh kính, lẫn những sợi chỉ, những mẩu giấy vụn đã ngả màu. Không có hành lý. Không có giỏ xách, không có bao tải. Mọi thứ của khách hẳn đã được người ta lấy đi từ ba mươi năm trước.

Ở băng ghế dài cuối xe, sát cái cửa thoát hiểm cô vừa leo vào, có một chiếc chiếu cói cuộn tròn, một cái gối bông, và một cái túi ni lông màu đỏ buộc chặt miệng bằng sợi thun.

Lam chưa đụng vào. Cô biết băng ghế này. Xe khách hồi đó, băng ghế cuối là chỗ tài phụ ngả lưng ngủ trong lúc tài chính lái. Chiếu cói, gối bông, một cái túi đồ nhỏ. Chú Năm kể với cô nhiều lần về những năm chạy xe ngồi: "Ngủ băng sau, xe xóc tới đâu đầu đập vô kính tới đó, sáng ra bể trán."

Cô lách người qua những hàng ghế đổ, đi dần lên phía trước. Càng lên trước, ghế càng đổ nhiều, sàn càng vênh. Tới hàng thứ ba thì sàn xe cong lên thành một cái gờ, cô phải bước qua. Tới ca bin.

Ca bin xe là chỗ móp nặng nhất. Cái vô lăng to bản, vỏ nhựa đen, bị đẩy lệch sang phải, trục lái cong. Cái táp lô nứt làm đôi. Trên táp lô có một cái máy cát-xét gắn liền, nút bấm bằng nhựa trắng, trong khe băng còn kẹp một cuốn băng, nhãn giấy đã mờ không đọc được. Dưới chân ghế phụ có một cái phích nước vỏ nhựa đỏ, nắp còn vặn chặt. Trên bậc lên xuống, một cái nón lá đã mục, chỉ còn cái khung tre và vài mảnh lá bám vào.

Ghế tài nằm lệch về sau, cái lưng ghế bị đẩy ngửa ra.

Lam rọi đèn pin xuống chân ghế, theo thói quen của người làm thợ. Ghế tài xe khách đời đó chạy trên hai thanh ray thép, có cái cần gạt bên hông để chỉnh tới lui. Cô thấy cái chốt khóa ray đang nằm ở nấc cuối cùng, nấc xa vô lăng nhất. Cô thò tay vào, thử gạt cái cần. Cứng ngắc. Rỉ sét đã hàn nó vào chỗ đó. Cô buông tay.

Cô không nghĩ gì thêm về cái ghế lúc đó. Cô chỉ ghi nhận nó, như cô ghi nhận đĩa phanh xe 15 còn hai mươi hai ly, như ghi nhận một chỗ bệnh. Sau này cô mới biết mình đã ghi nhận nó.

Cô quay về băng ghế cuối.

Cô ngồi xổm xuống trước cái túi ni lông đỏ. Lớp ni lông đã giòn, mỏng như giấy pơ-luya, chỗ nếp gấp đã bạc trắng. Sợi thun buộc miệng túi đã chảy nhựa, dính vào ni lông. Cô không tháo được. Cô lấy cây kéo nhỏ trong túi quần ra, cắt.

Bên trong là một đôi giày len.

Một đôi giày len trẻ sơ sinh, đan tay, màu vàng hoa cải, mỗi chiếc dài chừng một đốt ngón tay rưỡi. Cổ giày có xỏ một sợi ruy băng trắng, thắt nơ. Len đã ngả màu, cái vàng tươi chuyển sang vàng xỉn, nhưng không mục, không mốc, vì cái túi buộc kín. Dưới đôi giày có một tờ giấy gói hàng màu nâu, gấp lại, in tên một sạp hàng ở chợ nào đó trong Sài Gòn, mực đã nhòe chỉ còn đọc được hai chữ "Bà Chiểu".

Lam cầm đôi giày lên. Nó nhẹ hều. Nhẹ như cầm một nắm lông gà.

Cô đứng trong lòng chiếc xe chết, giữa bốn mươi lăm cái ghế đổ, cầm đôi giày len vàng trên tay, và không hiểu sao cô thấy cổ họng mình nghẹn lại, nghẹn tới mức không thở được. Cô không biết đôi giày này của ai. Cô chỉ biết ba mươi năm trước, trên chiếc xe này, có một người đã mua nó ở chợ Bà Chiểu, gói cẩn thận, buộc thun, để dưới gối, chờ ngày mang về nhà.

Và không mang về tới nhà.

– Út! – Vĩnh gọi ngoài cửa thoát hiểm. – Út có sao không?

– Không anh.

Cô leo xuống, đôi giày trong một tay, cái túi ni lông cắt dở trong tay kia.

Ngoài kho, mọi người vẫn đứng ở chỗ cũ, như sợ bước vào. Ông Hai Lợi nhìn thấy đôi giày, ghi vào tập: "Một đôi giày len trẻ sơ sinh màu vàng, trong túi ni lông, ở băng ghế cuối." Chị Liên đưa tay lên che miệng. Anh Tư Phát nhìn đôi giày, rồi quay mặt đi chỗ khác.

– Còn gì không? – Chị Trinh hỏi.

– Một cái phích nước, một cái nón lá, một cuốn băng cát-xét. Chiếu, gối. – Lam nói. – Không có gì khác.

Anh Hai Hưng đứng ở cửa kho, hai tay chống hông. Từ lúc cánh cửa mở tới giờ, anh chưa bước vào một bước. Anh nhìn chiếc xe, nhìn cái số 07 bong sơn, nhìn đôi giày trên tay Lam.

Rồi anh bật cười. Không to. Một tiếng cười ngắn, khàn.

– Ổng để cho mày đống sắt vụn. – Anh nói. – Ba chục năm hàn kín. Đống sắt vụn với đôi giày con nít. Chúc mừng mày.

– Anh Hai. – Chị Ba Châu nói.

– Gì? Tao nói sai hả? Đây, ông Hai ghi đi, ghi là xe số bảy theo di chúc đã giao cho người thừa hưởng, không có tài sản gì khác. – Anh quay sang Lực. – Lực, đi. Xong rồi.

Anh quay lưng. Chị Trinh đi theo, cái túi vải đung đưa. Lực đi sau cùng.

Họ đi được chừng mười bước thì chị Ba lên tiếng, giọng to hơn mọi khi.

– Chú Năm.

Anh Hai dừng lại.

Chú Năm Trọng vẫn đứng dựa lưng vào bờ rào gạch. Điếu thuốc rê chú vấn từ bảy giờ sáng vẫn chưa châm, đã nhũn ra giữa hai ngón tay.

– Chú Năm biết chiếc xe này. – Chị Ba nói. Không phải câu hỏi. – Lúc nãy chú nói "bẩy nữa". Chú biết trong này có cái gì.

Mọi người nhìn chú Năm. Chú nhìn xuống đất.

– Chú Năm. – Lam nói. – Chú kể đi chú.

Chú Năm thở ra một hơi rất dài. Chú vứt điếu thuốc nhũn xuống đất, lấy mũi dép di lên nó.

– Chiếc này chạy tuyến Quảng Ngãi – Sài Gòn, hồi đó còn là xe ngồi, của hợp tác xã, ông Bảy là chủ. – Chú nói, giọng ồm và chậm. – Đêm mười bốn tháng Tám năm chín sáu, nó chạy vô. Khoảng hai giờ sáng thì tới Cù Mông. Tới khúc cua gần đỉnh, nó lao qua lề, lật xuống dưới. Chết năm người. Bốn người khách, với người lái.

Lam đứng yên. Đôi giày len trên tay cô.

– Người lái là ai chú?

– Hồi đó người ta nói người lái ngủ gật. – Chú Năm nói tiếp, như không nghe câu hỏi. – Công an hồi đó về điều tra, kết luận người lái ngủ gật, xe mất lái. Ông Bảy là người thứ hai trên xe, nằm băng sau, bị gãy xương sườn. Người lơ xe mất một chân. Người lái chết tại chỗ. Người chết rồi thì người ta không truy nữa. Ông Bảy đền tiền cho nhà mấy người khách. Tháng Giêng năm sau, công an cho kéo xác xe về. Chú lái xe cẩu đi kéo. Ông Bảy bắt chú kéo về đây, bỏ vô cái kho ổng mới xây. Rồi ổng hàn cửa.

– Chú Năm. – Lam nói lại. Cô nghe giọng mình xa lạ, như giọng ai khác. – Người lái tên gì?

Chú Năm ngẩng lên. Lần đầu tiên từ sáng, chú nhìn thẳng vào mặt cô. Lam thấy mắt chú đỏ, thấy cái hàm bạnh của chú run lên.

– Đức. – Chú nói. – Tạ Văn Đức.

Không ai trong sân động đậy.

Ông Hai Lợi cầm cây bút, ngừng giữa chừng một chữ. Chị Liên buông tay khỏi miệng. Anh Tư Phát quay phắt lại. Anh Hai đứng cách đó mười bước, lưng còn quay về phía kho, nhưng đầu thì đã ngoái lại, ngoái nửa chừng, như cái cổ bị kẹt.

Lam nhìn xuống đôi giày len vàng.

Tạ Văn Đức. Cái tên đó cô đã đọc cả trăm lần. Đọc trên giấy khai sinh của mình, mỗi lần đi làm giấy tờ, làm hồ sơ xin học nghề, làm căn cước. Ô "Họ, chữ đệm, tên người cha". Tạ Văn Đức. Một cái tên chỉ có trên giấy. Một người má cô chỉ nhắc đúng một câu, cả đời: "Ba con mất trước khi con sinh."

– Tạ Văn Đức. – Lam nói. Cô nói với chú Năm, nhưng cô biết cả cái sân đang nghe. – Là chồng của má con.

— Hết chương 13 —

Mục lục Chiếc xe số bảy trong di chúc

  1. 1Máy còn nổ ở hầm số hai11 phút
  2. 2Xe tang chết máy trên cầu Bàu Giang11 phút đọc
  3. 3Ba mươi năm không có số bảy11 phút đọc
  4. 4Ông khách đi xe màu bạc10 phút đọc
  5. 5Bảng kê mười sáu chiếc xe10 phút đọc
  6. 6Bốn cái tên ở khúc cua11 phút đọc
  7. 7Những dòng chi khác10 phút đọc
  8. 8Một cái tên trên trích lục12 phút đọc
  9. 9Ngày hai mươi mốt11 phút đọc
  10. 10Bộ vest xám ở phường Cẩm Thành10 phút đọc
  11. 11Ki-ốt cơm ở góc cổng11 phút đọc
  12. 12Mối hàn ba mươi năm10 phút đọc
  13. 13Ghế tài lùi nấc cuối10 phút đọc
  14. 14Cô Sen ở làng chài10 phút đọc
  15. 15Bãi đậu không phải bến10 phút đọc
  16. 16Bà Tám Dưỡng kể9 phút đọc
  17. 17Đường ra Đà Nẵng10 phút đọc
  18. 18Không cùng một dòng máu10 phút đọc
  19. 19Con của Tạ Văn Đức12 phút đọc
  20. 20Xưởng Út Lam11 phút đọc
  21. 21Tờ cọc sáu tỷ11 phút đọc
  22. 22Ray ghế ở nấc cuối11 phút đọc
  23. 23Năm sào ruộng mặt đường11 phút đọc
  24. 24Người lơ xe ven đầm Ô Loan10 phút đọc
  25. 25Ba triệu mỗi tháng10 phút đọc
  26. 26Ghế số chín10 phút đọc
  27. 27Buổi hòa giải ở tòa11 phút đọc
  28. 28Quáng gà11 phút đọc
  29. 29Cuộc gọi lúc ba giờ sáng10 phút đọc
  30. 30Mười sáu chiếc xe đứng yên10 phút đọc
  31. 31Phần của má10 phút đọc
  32. 32Bàn tiệc Đại Phong10 phút đọc
  33. 33Đơn rút10 phút đọc
  34. 34Cái tên thứ năm10 phút đọc
  35. 35Xe số bảy lăn bánh10 phút đọc
  36. 36Giỗ đầu10 phút đọc

Về truyện này

Chiếc xe số bảy trong di chúc là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Khánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →