Chương 33: Đơn rút
Chín giờ mười lăm sáng thứ Năm, điện thoại Lam rung lên trên cái bàn nguội dưới tấm bạt xanh, và tin nhắn của luật sư Thư chỉ có hai dòng.
"Anh Hưng vừa nộp đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Tòa sẽ ra quyết định đình chỉ."
Lam đọc xong, úp điện thoại xuống bàn. Cô đang thay cái bơm nước cho một chiếc xe đưa rước công nhân. Cô chui lại xuống gầm, siết nốt bốn con bu lông, lau tay, rồi mới ngồi xuống cái bậc ki-ốt, cầm điện thoại lên đọc lại lần nữa.
Bà Tám Dưỡng ở bên kia cổng ngó qua.
– Gì đó con?
– Dạ, anh Hai rút đơn rồi bà.
Bà Tám đặt cái ly đang lau xuống. Bà không nói gì. Bà đi vô sạp, lục lọi một hồi, rồi bưng ra một ly nước sâm bông cúc, loại bà chỉ nấu vào ngày rằm, đặt lên bậc ki-ốt cạnh Lam.
– Uống đi. Hồi sáng bà nấu, tính để chiều bán.
Mười giờ, chị Ba gọi. Mười giờ rưỡi, anh Tư nhắn một cái hình: tờ giấy biên nhận của tòa chụp trên mặt bàn gỗ, cạnh một ly cà phê sữa đá. Không kèm chữ nào.
Lam ngồi trên bậc ki-ốt, uống ly nước sâm, nhìn ra cổng bến. Giữa trưa, nắng cuối tháng Sáu đổ xuống bãi đậu trắng lóa. Hai cây bàng đầu cổng lá đã già, xanh thẫm. Chiếc xe 05 vừa về từ Sài Gòn, phụ xe đang rửa kính. Không có gì khác. Cô tưởng mình sẽ thấy cái gì đó khác. Một tiếng gì. Một cái nhẹ nhõm gì. Không có. Chỉ có cái bơm nước cũ nằm trên bàn nguội, cái vòi nước ở góc cổng nhỏ giọt, tiếng xe tải chạy ngoài Quốc lộ.
Ba giờ chiều, có một người đứng ở mép tấm bạt xanh.
Chú Tấn. Chú mặc cái áo sơ mi xanh dương in chữ Đại Phong trên túi ngực, cái áo mà chú đã gỡ cái bảng tên ra, còn hai cái lỗ kim. Chú đứng đó, hai tay đút túi quần, không bước vô dưới tấm bạt, như người đứng ngoài ngưỡng cửa nhà người khác.
– Chú Tấn. – Lam đứng dậy. – Chú vô ngồi.
– Thôi. – Chú Tấn nói. Chú nhìn cái bàn nguội, nhìn hàng cờ lê treo theo cỡ trên vách ki-ốt, rồi nhìn cô. – Bên kia nói ai muốn về thì cho về. Tao muốn về.
– Dạ. Chú lên phòng kế toán hỏi chị Ba.
– Tao hỏi mày trước.
– Đất của con, chú. Còn xe là xe của nhà xe. Chú về chạy xe thì chú hỏi nhà xe.
Chú Tấn đứng im một lúc. Cái hàm chú bạnh ra, rồi xẹp xuống.
– Hồi tháng Tư tao nói một câu. – Chú nói. – Tao nói tao không làm cho một cái bến mà chủ đất là con của thằng Đức. Tao nói to cho cả bến nghe. – Chú rút một tay ra khỏi túi quần, chà lên mặt. – Giờ tao nói lại, cũng to. Tao xin về chạy xe cho một cái bến mà chủ đất là con của anh Đức.
Chú quay đi trước khi Lam kịp trả lời, đi thẳng qua cổng, về phía nhà điều hành. Lam đứng dưới tấm bạt, nhìn theo cái lưng chú. Tới cửa phòng bán vé, chú dừng lại, cởi cái áo sơ mi xanh dương ra, vắt lên vai, mặc nguyên cái áo ba lỗ đi lên cầu thang.
Năm giờ chiều, anh Hai nhắn tin. Tin nhắn ngắn như tin nhắn hồi tháng Ba.
"Tối nay tới nhà. Một mình."
Bảy giờ tối, Lam dựng xe máy trước cổng sắt nhà Hùng Vương.
Lần này cổng mở sẵn. Phòng khách bật đèn. Anh Hai ngồi trên cái ghế gỗ kê sát bàn thờ, mặc áo thun, quần tây, chân đi dép. Chị Trinh ngồi ở bậc cầu thang, chỗ anh Tư hay ngồi. Bà Bảy không có ở phòng khách. Cánh cửa buồng nhỏ của bà khép.
– Ngồi đi. – Anh Hai nói.
Lam ngồi xuống cái ghế đối diện. Giữa hai người là cái bàn nước nhỏ, trên đó có một ấm trà, hai cái tách, và không có gì khác.
Anh Hai không rót trà. Anh ngồi im một lúc lâu, nhìn lên tấm ảnh ông Bảy mặc vest nâu trên bàn thờ. Lam chờ.
– Năm tao hai mươi tuổi. – Anh Hai nói, mắt không rời tấm ảnh. – Học xong trung cấp. Tao xin ba xuống xưởng. Xin đi phụ xe. Xin cầm vô lăng, một lần thôi, chạy một vòng bãi. Ba đứng giữa sân chửi tao một trận. Ba nói nhà này cần một đứa biết làm sổ, không cần thêm một thằng chui gầm. Ba bắt tao đi học kinh tế.
Anh dừng lại.
– Hai mươi chín năm tao tưởng ba coi thường tao. Tao tưởng ba thấy tao không có cái tay. Tao tưởng ba thương mày hơn tao, vì mày có cái tay. – Anh quay sang nhìn cô. – Giờ tao biết vì sao rồi.
Lam không nói gì.
– Ba không muốn con ba ngồi cái ghế đó. – Anh Hai nói. – Cái ghế tài. Ba ngồi nó một đêm, giết năm người. Ba không muốn tao ngồi nó. Ba cho mày ngồi, vì mày là con thằng Đức. Mày ngồi nó là mày ngồi lại cái chỗ của ba mày. Ba trả cho ba mày.
Giọng anh không run. Anh nói như người đã nghĩ câu đó suốt mười mấy đêm không ngủ, nghĩ tới thuộc lòng.
– Em không biết chú Bảy nghĩ vậy không, anh Hai.
– Tao cũng không biết. – Anh Hai nói. – Ba chết rồi. Không ai biết ba nghĩ gì. Tao chỉ biết tao đã sai. Tao sai từ cái sáng tao tháo chùm chìa trên thắt lưng ba, trong lúc ba còn ngồi trên ghế xe mười hai. Mày đứng đó. Mày thấy. Tao tháo cái chìa trước khi tao khóc.
Chị Trinh ở bậc cầu thang cúi gằm mặt xuống.
Anh Hai đưa bàn tay phải lên. Anh nhìn nó một lúc, nhìn cái nhẫn mặt đá đỏ trên ngón áp út. Rồi anh lấy ngón cái với ngón trỏ tay trái, kéo cái nhẫn ra.
Nó ra dễ dàng. Ba tháng rưỡi nay nó chưa từng vừa tay anh. Anh gầy đi, nó càng lỏng. Giờ nó tuột ra như một cái khoen sắt tuột khỏi một cái trục đã mòn.
Anh đặt nó lên mặt bàn nước. Ngay giữa bàn, giữa hai cái tách trà chưa rót. Mặt đá đỏ ngửa lên, bắt ánh đèn phòng khách, lóe một đốm.
– Của mày. – Anh nói.
Lam nhìn chiếc nhẫn.
Cô đã thấy nó trên tay ông Bảy mười mấy năm. Thấy nó lóe lên trong cabin xe mười hai lúc bốn giờ hai mươi sáng. Thấy nó trên tay anh Hai lúc anh xoay nó ngoài bãi đậu, nói điện thoại "vô rồi". Thấy nó trên ngón tay anh chỉ vào mặt cô ở mâm cúng hai mươi mốt ngày. Và cô đã thấy nó, qua lời một cô giáo dạy văn, ba mươi năm trước, một đốm đỏ chạy ngang qua cái đèn táp lô màu xanh trên một chiếc xe chạy đêm.
– Không phải của em, anh Hai. – Cô nói.
– Ba để cho mày cái xe với những gì trong đó. Cái này cũng ở trong đó. Đêm đó nó ở trên tay ba.
– Đêm đó nó ở trên tay chú Bảy. – Lam nói. – Ba mươi sáu năm nó ở trên tay chú Bảy. Nó không phải của em. Cũng không phải của anh Hai.
Cô đứng dậy. Cô cầm chiếc nhẫn lên. Nó nhẹ hơn cô tưởng. Mặt đá còn ấm hơi tay người.
Cô đi tới bàn thờ. Tấm ảnh ông Bảy mặc vest nâu nhìn ra phòng khách, cái mặt nghiêm nghị của người chụp ảnh thẻ, hai con mắt nhìn thẳng mà không nhìn ai. Trước tấm ảnh là bát hương, hai cây đèn dầu nhỏ, đĩa trái cây, ly nước. Lam đặt chiếc nhẫn xuống mặt bàn thờ, ngay chân khung ảnh. Mặt đá đỏ quay về phía tấm ảnh.
Rồi cô lùi lại một bước. Cô chắp tay. Cô không lạy, không khấn. Cô đứng đó.
Sau lưng cô, anh Hai đứng dậy. Cô nghe tiếng ghế gỗ cạ xuống nền gạch.
– Lam.
Cô quay lại.
Anh Hai đứng giữa phòng khách. Anh không nói xin lỗi. Người đàn ông Quảng Ngãi gần năm mươi tuổi đó không biết nói chữ đó. Anh chỉ đứng, hai tay buông thõng, cái ngón áp út tay phải trống trơn, còn một vệt trắng nhạt chỗ cái nhẫn vừa nằm ba tháng rưỡi.
– Cái xưởng ba hầm. – Anh nói. – Từ ngày một tháng Bảy, mày về đứng đó. Tổ trưởng. Như cũ.
– Dạ.
– Cái phòng cuối dãy. Mày muốn về thì về.
– Em ở ki-ốt quen rồi anh Hai.
Anh Hai gật đầu. Anh nhìn quanh phòng khách, như tìm thêm một câu gì để nói, mà không tìm ra.
– Tuần sau tao vô Sài Gòn. – Anh nói. – Văn phòng. Như mày nói.
Chị Trinh đứng dậy khỏi bậc cầu thang. Chị đi xuống bếp, không nói câu nào. Lam nghe tiếng nước chảy, tiếng ấm nước đặt lên bếp. Một lúc sau chị Trinh đi lên, cầm một cái hộp nhựa có nắp, đặt lên bàn nước, đẩy về phía Lam.
Bánh xèo. Còn ấm. Chị đã chiên từ chiều.
Chị Trinh không nhìn Lam. Chị quay lưng đi lên lầu. Lam ngồi nhìn cái hộp bánh xèo. Cô nhớ ra là chiều nay, sau tin nhắn của anh Hai, cô có mở trang cá nhân của chị Trinh. Cái bài viết "con giáp mười ba", cái tấm ảnh "Cái gì của mình thì phải lấy lại", không còn nữa. Đã gỡ hết.
Cánh cửa buồng nhỏ mở ra.
Bà Bảy đứng ở ngưỡng cửa buồng, cái áo len xám khoác trên vai. Bà nhìn qua phòng khách, nhìn bàn thờ, nhìn chiếc nhẫn mặt đá đỏ đặt dưới chân tấm ảnh chồng bà. Bà nhìn lâu. Rồi bà nhìn Lam.
– Chủ nhật này. – Bà nói. – Má muốn đi Cù Mông.
Lam đứng dậy.
– Dạ.
– Con nói với cô Sen. Với ông Lộc. Với chú Năm. – Bà nói. – Má muốn đứng trước cái bia đó. Má muốn nói với bà già giữ bia một câu mà ba mươi năm nay ổng không dám nói.
Anh Hai quay lại nhìn mẹ.
– Má. Con đi với má.
Bà Bảy nhìn con trai. Bà gật đầu, rất nhẹ, cái gật đầu giống hệt cái gật đầu bà dành cho Lam lúc bốn giờ sáng trong cabin xe mười hai, ba tháng rưỡi trước.
– Ừ. – Bà nói. – Con đi.
Lam ra về lúc chín giờ. Cô cầm theo cái hộp bánh xèo. Ra tới cổng sắt, cô quay lại nhìn vô phòng khách một lần. Đèn trên bàn thờ còn sáng. Dưới chân tấm ảnh ông Bảy, chiếc nhẫn mặt đá đỏ bắt ánh đèn dầu, lóe lên một đốm nhỏ, như con mắt của ai đó đang mở, nhìn theo cô ra tới đường.
— Hết chương 33 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe