AI Truyện
Chiếc xe số bảy trong di chúc

🏠 Gia đình & vả mặt

Người lơ xe ven đầm Ô Loan

Chiếc xe số bảy trong di chúc · Chương 24/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 24: Người lơ xe ven đầm Ô Loan

Cuống biên lai gửi tiền bưu điện cuối cùng chị Sáu Liên còn giữ đề ngày hai mươi tháng Hai năm hai ngàn hai mươi sáu, mười bốn ngày trước khi ông Bảy mất.

Người nhận: Đỗ Văn Lộc. Địa chỉ nhận: bưu điện văn hóa xã, một cái tên xã ven đầm Ô Loan. Chị Liên đã viết nó hai mươi ba năm, thuộc tới mức chữ "Ô" của chị lúc nào cũng có cái móc nhỏ ở đầu. Số tiền: ba triệu đồng. Người gửi: Phùng Thị Liên.

– Ông không cho ghi tên ông. – Chị Liên nói. – Ghi tên chị.

Sáng thứ Hai, phòng kế toán chỉ có hai người. Cái tủ sắt bốn ngăn mở, một xấp cuống biên lai cột dây thun nằm trên bàn, giấy đã ngả vàng từ dưới lên trên, như cái thân cây lâu năm.

– Tháng Ba chị không gửi?

– Không. – Chị Liên tháo kính ra, rồi không lau, chỉ cầm. – Tháng Ba ông mất. Không ai đưa tiền. Chị không biết phải hỏi ai. Hỏi anh Hai thì anh Hai hỏi lại tiền đó là tiền gì. Chị không trả lời được. Thôi chị không hỏi.

– Tháng Tư cũng vậy.

– Ừ. – Chị Liên nhìn xuống xấp biên lai. – Hai tháng rồi. Tới ngày hai mươi này là ba. Chị nghĩ tới ông Lộc nào đó ở dưới đó, tới ngày ra bưu điện không có tiền. Chị không ngủ được, Lam.

Lam chép cái địa chỉ vào lòng bàn tay, như Vĩnh vẫn làm.

– Chị Sáu, chị có biết ông Lộc là lơ xe của xe số bảy không?

Chị Liên ngẩng lên. Chị nhìn Lam rất lâu. Rồi chị lắc đầu, chậm, như lắc một cái gì nặng lắm.

– Ông chỉ nói gửi cho một người ông giúp. – Chị nói. – Hai mươi ba năm. Chị không hỏi. Chị tưởng không hỏi là trung thành.

Chiều thứ Ba, anh Tư Phát ghé xưởng Út Lam, đứng dưới tấm bạt xanh, tay đút túi quần, nhìn cô thay má phanh cho một chiếc xe đưa rước học sinh.

– Con Châu kể tao nghe chuyện ông Lộc rồi. – Anh nói. – Mày tính đi kiếm?

– Dạ. Mai em đi.

– Mày có biết mặt ổng không?

– Không.

– Ô Loan rộng lắm. Ven đầm cả chục xóm. Mày cầm cái tên xã đi hỏi từng nhà thì một tuần. – Anh Tư ngồi xổm xuống, ngang tầm cô đang nằm. – Tao có thằng bạn dưới Tuy Hòa. Hồi trước… hồi trước tao với nó cùng chơi một hội. Nó làm đại lý vé số khu đó. Một ông già bán vé số mất một chân, ở ven đầm, nó mà không biết thì không ai biết.

Lam trườn ra khỏi gầm. Cô nhìn anh Tư. Mặt anh hốc hác hơn tuần trước, hai quầng mắt thâm, cái áo sơ mi nhăn nhúm như mặc ngủ.

– Anh Tư.

– Gì.

– Anh có sao không?

– Tao không sao. – Anh Tư cười, cái cười gượng. – Mai sáu giờ tao chở mày.

Sáu giờ sáng thứ Tư, chiếc xe bốn chỗ đỏ đô bấm còi ba tiếng trước cửa ki-ốt. Lần này ghế trước trống. Anh Tư đặt trên ghế một bịch bánh mì, hai hộp sữa đậu nành.

– Ăn đi. Đi xa.

Họ chạy Quốc lộ, không lên cao tốc. Qua Sa Huỳnh, qua Bình Đê, qua Quy Nhơn. Tới Cù Mông, anh Tư không chui hầm. Anh rẽ vô con đường đèo cũ, chạy chậm, tới khúc cua gần đỉnh thì tấp vô lề, tắt máy.

– Tao muốn coi cái bia. – Anh nói.

Hai anh em đứng trước tấm bia đá. Bốn cái tên. Cái khoảng đá trống. Bình hoa cúc trắng đã thay bằng cúc vàng. Bà Ngộ không có ở đó, đã quét xong, đã về. Mấy cây nhang buổi sáng còn cháy dở.

Anh Tư đứng lâu. Anh đọc từng cái tên, môi mấp máy. Rồi anh rút trong túi quần ra cái bóp, rút ra mấy tờ tiền, định nhét vào cái hũ sành trước miếu. Anh khựng lại.

– Ba cho người ta tiền ba chục năm rồi. – Anh nói. – Tao cho thêm thì được gì.

Anh cất bóp. Anh thắp ba cây nhang, cắm vào bát. Rồi anh thắp thêm một cây, cầm trên tay, đứng đó một lúc, không biết cắm vào đâu. Cuối cùng anh cắm nó xuống cái khoảng đá trống dưới cái tên thứ tư, cắm vô kẽ đất giữa chân bia và nền xi măng.

Lam đứng sau lưng anh, không nói gì.

Chín giờ rưỡi, họ tới Ô Loan.

Cái đầm nằm sát Quốc lộ, rộng mênh mông, mặt nước phẳng lặng màu xanh xám, phản chiếu mấy rặng núi thấp phía tây. Trên mặt đầm, những hàng cọc tre cắm thẳng tắp, những cái chòi canh nuôi sò dựng trên cọc, mái lá, cầu tre nhỏ dẫn ra. Ven đầm là một dãy quán bán sò huyết, quán nào cũng có mấy cái bàn nhựa kê sát mép nước, có cái bếp than lụi lửa, có mấy cái thau nhôm đựng sò ngâm nước.

Bạn anh Tư là một người đàn ông bụng phệ, đeo dây chuyền to, ngồi chờ ở quán đầu dãy. Anh ta bắt tay anh Tư, vỗ vai, nói mấy câu nhỏ mà Lam không nghe, rồi chỉ tay về phía cuối dãy quán, chỗ có cây cầu bê tông nhỏ bắc qua một con lạch.

– Ông Chín Lộc. – Anh ta nói. – Ngày nào cũng ngồi đầu cầu đó bán vé. Ổng khó lắm, không nói chuyện với ai. Mua vé thì bán, hỏi chuyện thì ổng chửi.

Anh Tư cám ơn. Người đàn ông bụng phệ nói thêm một câu, lần này đủ to cho Lam nghe.

– Mà Tư, chuyện bên kia cuối tháng này rồi đó nghen. Tao nói trước.

Anh Tư gật đầu, không nhìn Lam.

Họ đi bộ dọc dãy quán. Gió đầm thổi vào mát rượi, mang theo mùi bùn, mùi sò, mùi than nướng. Tới đầu cây cầu, Lam thấy ông ta.

Một ông già ngồi trên một cái ghế nhựa thấp kê sát lan can cầu, cái lưng tựa vào trụ bê tông. Ông già gầy, đen, tóc bạc trắng cắt ngắn sát da đầu. Ống quần bên trái của ông xắn lên, gấp lại, ghim bằng một cái kim băng. Cạnh ghế dựng một cây nạng gỗ, cái đầu nạng quấn vải mòn bóng. Trên đùi phải ông đặt một tấm bìa cứng, trên tấm bìa cài mấy chục tờ vé số, kẹp bằng mấy cái kẹp phơi đồ.

Ông đang ngó ra đầm. Ông không ngó người đi qua.

Lam đứng lại cách ông mấy bước. Anh Tư đứng sau lưng cô.

– Dạ, chú. – Lam nói. – Cho con mua vé số.

Ông già quay đầu lại.

Ông nhìn cô. Ông nhìn lâu, lâu lắm, lâu tới mức Lam nghe được tiếng mái chèo một chiếc ghe nhỏ khua dưới lạch. Cái mặt nhăn nheo của ông không đổi. Nhưng bàn tay ông, bàn tay đang cầm mấy tờ vé số, siết lại, siết tới mức mấy tờ giấy mỏng nhăn nhúm.

– Mày là con của ai?

– Dạ, con là Lam. Ở Bàu Giang ngoài Quảng Ngãi.

– Tao không hỏi mày ở đâu. – Ông già nói. Giọng ông khàn đặc, như giọng người hút thuốc lào cả đời, mỗi chữ cộc lốc như đinh đóng. – Tao hỏi mày con ai.

Lam không trả lời ngay. Cô nghĩ tới cái câu cô đã nói với bà Ngộ, với ông khách lạ ở sạp bà Tám. Nói ra thì dễ hơn lần đầu, mà vẫn không dễ.

– Con là con của Trương Thị Lựu. – Cô nói. – Với Tạ Văn Đức.

Ông già không nhúc nhích. Một chiếc xe máy chạy qua cầu, rung cả cái lan can. Ông không chớp mắt.

– Con Lựu. – Ông nói. – Năm đó nó lên bệnh viện Tuy Hòa. Bụng nó chưa lớn. Nó đứng ở cửa phòng tao cả buổi, không vô. Mày giống nó như đúc.

– Dạ. Ai cũng nói vậy.

– Mày xuống đây làm gì?

– Con muốn hỏi chú về đêm mười bốn tháng Tám năm chín sáu.

Ông già bật cười. Một tiếng cười ngắn, khô, như tiếng cành củi gãy.

– Hỏi tao. – Ông nói. – Ba chục năm, có ai hỏi tao không? Công an hỏi tao một lần, ở trong bệnh viện. Tao trả lời một lần. Hết.

– Chú trả lời sao?

Ông già không trả lời. Ông chống tay lên cây nạng, đứng dậy. Ông đứng trên một chân, vững như người đã đứng như vậy ba mươi năm, tấm bìa vé số kẹp dưới nách.

– Về đi. – Ông nói. – Tao không biết gì hết. Tao nằm băng sau, tao ngủ, tao tỉnh dậy thì cái chân tao kẹt dưới cái ghế. Tao không biết gì hết.

– Chú Chín…

– Về!

Ông quát. Mấy người ngồi ở quán sò gần đó quay đầu lại nhìn. Anh Tư bước lên một bước, đặt tay lên vai Lam.

– Út. Đi. Để bữa khác.

Ông già quay lưng, chống nạng đi về phía bên kia cầu, mỗi bước cái nạng gỗ gõ xuống mặt bê tông một tiếng cộc. Đi được chừng chục bước, ông dừng lại. Ông không quay đầu.

– Mà mày. – Ông nói. – Mày ở Bàu Giang, mày có biết ông Bảy Cự không?

Lam đứng chết trân.

– Dạ, con biết.

– Mày về nói với ổng. – Ông già nói, giọng không còn quát nữa, mà trầm xuống, gần như mệt. – Hai tháng nay tiền chưa tới. Tháng nào cũng ngày hai mươi, tao ra bưu điện. Hai lần rồi, con nhỏ bưu điện lắc đầu. Mày nói với ổng, tao không đòi. Ba chục năm tao chưa đòi ổng một đồng. Tao chỉ hỏi ổng có sao không.

Ông đi tiếp. Cái nạng gỗ gõ cộc, cộc, cộc, nhỏ dần qua bên kia cầu, rồi rẽ vô một con hẻm đất giữa hai cái quán sò.

Lam đứng ở đầu cầu. Gió đầm thổi tóc cô bay ngược ra sau. Dưới chân cô, nước lạch chảy chậm, đục ngầu, kéo theo mấy cọng rong.

Ông không biết. Hai tháng nay, ông Chín Lộc ra bưu điện mỗi ngày hai mươi, chờ một cái biên lai không tới, và không ai nói cho ông biết người gửi đã nằm dưới đất từ đầu tháng Ba.

– Út. – Anh Tư đứng cạnh cô. Giọng anh run. – Ổng không biết ba chết.

– Dạ.

– Ba chục năm. – Anh Tư nói. – Ba chục năm ba nuôi một ông già mất một chân, ở cách nhà hai trăm cây số. Mà ổng không biết ba chết.

Lam không trả lời. Cô nhìn theo con hẻm đất nơi cái bóng ông già vừa khuất. Cô nhớ câu ông nói, nói cộc lốc như đinh đóng, nói nhanh quá, nói như một bài đã thuộc lòng.

"Tao nằm băng sau, tao ngủ, tao tỉnh dậy thì cái chân tao kẹt dưới cái ghế."

Không ai hỏi ông nằm ở đâu. Ông tự nói.

Băng sau là chỗ của anh Đức.

— Hết chương 24 —

Mục lục Chiếc xe số bảy trong di chúc

  1. 1Máy còn nổ ở hầm số hai11 phút
  2. 2Xe tang chết máy trên cầu Bàu Giang11 phút đọc
  3. 3Ba mươi năm không có số bảy11 phút đọc
  4. 4Ông khách đi xe màu bạc10 phút đọc
  5. 5Bảng kê mười sáu chiếc xe10 phút đọc
  6. 6Bốn cái tên ở khúc cua11 phút đọc
  7. 7Những dòng chi khác10 phút đọc
  8. 8Một cái tên trên trích lục12 phút đọc
  9. 9Ngày hai mươi mốt11 phút đọc
  10. 10Bộ vest xám ở phường Cẩm Thành10 phút đọc
  11. 11Ki-ốt cơm ở góc cổng11 phút đọc
  12. 12Mối hàn ba mươi năm10 phút đọc
  13. 13Ghế tài lùi nấc cuối10 phút đọc
  14. 14Cô Sen ở làng chài10 phút đọc
  15. 15Bãi đậu không phải bến10 phút đọc
  16. 16Bà Tám Dưỡng kể9 phút đọc
  17. 17Đường ra Đà Nẵng10 phút đọc
  18. 18Không cùng một dòng máu10 phút đọc
  19. 19Con của Tạ Văn Đức12 phút đọc
  20. 20Xưởng Út Lam11 phút đọc
  21. 21Tờ cọc sáu tỷ11 phút đọc
  22. 22Ray ghế ở nấc cuối11 phút đọc
  23. 23Năm sào ruộng mặt đường11 phút đọc
  24. 24Người lơ xe ven đầm Ô Loan10 phút đọc
  25. 25Ba triệu mỗi tháng10 phút đọc
  26. 26Ghế số chín10 phút đọc
  27. 27Buổi hòa giải ở tòa11 phút đọc
  28. 28Quáng gà11 phút đọc
  29. 29Cuộc gọi lúc ba giờ sáng10 phút đọc
  30. 30Mười sáu chiếc xe đứng yên10 phút đọc
  31. 31Phần của má10 phút đọc
  32. 32Bàn tiệc Đại Phong10 phút đọc
  33. 33Đơn rút10 phút đọc
  34. 34Cái tên thứ năm10 phút đọc
  35. 35Xe số bảy lăn bánh10 phút đọc
  36. 36Giỗ đầu10 phút đọc

Về truyện này

Chiếc xe số bảy trong di chúc là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Khánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →