Chương 11: Ki-ốt cơm ở góc cổng
Tám giờ sáng ba mươi mốt tháng Ba, Đinh Văn Lực dẫn hai thằng thợ, xách theo một ổ khóa mới còn nguyên vỉ, đi thẳng tới căn phòng cuối dãy tài xế, và thấy cửa phòng mở toang.
Bên trong trống trơn. Cái giường sắt đã được lau sạch, nệm cuộn tròn, buộc dây, dựng vào góc. Cái tủ nhựa mở cửa, không còn một cái móc áo. Sàn gạch mới lau, còn ướt. Trên mặt nệm cuộn có đặt một cái chìa khóa phòng, kèm một mẩu giấy viết bằng bút bi: "Phòng trả lại. Bóng đèn nhà tắm em mới thay. Vòi sen hơi rỉ, siết thêm nửa vòng là hết."
Lực đứng giữa căn phòng trống một hồi lâu. Hai thằng thợ đứng sau lưng, một thằng gãi đầu, thằng kia ngó ra cửa sổ cho đỡ ngượng.
– Nó dọn hồi nào? – Lực hỏi.
– Dạ, tối qua. – Thằng gãi đầu nói. – Anh Vĩnh với anh Khải phụ khiêng. Khiêng có mấy món, mười phút là xong.
– Dọn đi đâu?
Thằng thợ chỉ tay ra cổng.
Cái ki-ốt cơm ở góc cổng bến, sau hai tuần dọn dẹp, giờ đã thành một căn phòng. Mái tôn mới thay sáng lóa. Cái quầy xi măng được lau sạch, trên đó đặt một cái bếp ga đơn, một cái nồi cơm điện, mấy cái chén. Cái chõng tre cũ của má được kê lại góc trong, trải chiếu. Cái hộp đồ nghề màu đỏ để ngay dưới chân chõng. Trên vách gạch, Lam đóng ba cái đinh, treo cái áo liền quần xanh lá, cái áo khoác, cái nón bảo hiểm. Cửa ki-ốt là tấm cửa cuốn bằng tôn, kéo lên một nửa. Lam đang ngồi trên bậc, ăn tô cháo trắng với cá bống kho.
Lực đi tới. Anh ta đứng chống nạnh.
– Cái này cũng nằm trong bến. Ai cho mày ở đây?
Lam đặt tô cháo xuống bậc.
– Anh Lực, cái ki-ốt này không phải của công ty.
– Không phải của công ty thì của ai? Nằm trong cổng bến.
– Chú Bảy xây năm chín bảy, bằng tiền riêng, cho má em bán cơm. Hồi đó chưa có công ty. – Lam nói. – Anh lên hỏi chị Sáu Liên, trong bìa tài sản công ty không có cái ki-ốt này. Mà dù có hay không, nó nằm trên đất đứng tên em. Hợp đồng thuê của công ty ghi rõ phần đất cho thuê là khu bến, xưởng, bãi đậu, nhà điều hành, không có góc này. Anh muốn em dọn thì anh đưa em giấy.
Lực đứng đó. Mặt anh ta chuyển từ đỏ qua tím. Thằng thợ gãi đầu đứng sau lưng anh ta đã thôi gãi.
– Mày… – Lực nói, rồi không biết nói gì tiếp.
– Anh ăn cháo không? Em nấu dư.
Lực quay đi. Ổ khóa mới còn nguyên vỉ trên tay anh ta, đung đưa theo bước chân. Sạp bà Tám ở ngay bên kia cổng, bà Tám ngồi trong đó, cười không ra tiếng, cười tới mức phải lấy vạt áo bà ba chặm mắt.
Mấy đêm đầu ở ki-ốt, Lam không ngủ được. Không phải vì chật. Cái chõng tre ngắn hơn người cô một khúc, cô quen co chân từ hồi nhỏ. Không phải vì nóng. Cửa cuốn kéo lên một nửa, gió nam lùa vào mát rượi. Cô không ngủ được vì tiếng xe. Phòng cuối dãy tài xế nằm sâu trong bến, tiếng Quốc lộ chỉ vọng tới như tiếng sóng. Ở đây, cái ki-ốt sát mép đường, mỗi chiếc xe tải chạy qua là cái mái tôn rung lên. Mỗi chiếc xe khách xuất bến là đèn pha quét qua cửa cuốn, rọi lên vách gạch thành một vệt sáng chạy ngang, như ai cầm đèn pin lia tìm cái gì.
Hồi nhỏ cô ngủ được giữa những vệt sáng đó. Má ngồi bên cạnh, quạt cho cô bằng cái quạt nan, đếm xe xuất bến bằng tiếng máy. "Xe một đi rồi. Xe hai đi rồi." Má biết tiếng máy từng chiếc. Hồi đó Lam tưởng ai cũng biết.
Đêm thứ hai, khoảng mười giờ, có người gõ lên cửa cuốn. Anh Khải xe 02.
– Út, ngủ chưa? Xe anh cái đèn báo áp suất nhớt chập chờn, anh Lực nói thay cái cảm biến mà thay rồi vẫn vậy.
Lam ngồi dậy. Cô nghe anh Khải tả, hỏi thêm mấy câu, rồi nói anh coi lại cái giắc cắm dưới gầm, chỗ đó hay bị nước rửa gầm vô, lau khô, xịt chất chống ẩm. Anh Khải đi. Mười lăm phút sau anh quay lại, đưa ngón cái lên.
Đêm sau là anh Đạt xe 11, hỏi chuyện cái lọc tách nước. Rồi thằng Toàn xe 13. Rồi chú Hòa. Rồi hai người tài xế mới vào làm năm ngoái mà Lam chưa nói chuyện quá mười câu. Họ không vô ki-ốt. Họ đứng ngoài cửa cuốn, nói chuyện xe, hỏi xong thì đi. Có người để lại gói thuốc, có người để lại bịch bánh tráng, có người để lại một con cá thu một nắng mua ở chợ cá Sa Huỳnh.
Chú Năm Trọng không tới. Chú đi ngang qua ki-ốt mỗi ngày hai lần, lúc ra quán bà Tám và lúc về, chú không nhìn vào.
Sáng thứ Năm, ngày hai tháng Tư, có một cuộc họp ở phòng ông Bảy trên tầng hai nhà điều hành.
Cuộc họp do luật sư Thư đề nghị, bằng một tờ giấy gửi tới công ty, có chữ ký của Lam: đề nghị bàn việc gia hạn hợp đồng thuê đất trước ngày ba mươi tháng Sáu. Chị Liên nhận tờ giấy, đóng dấu đến, đưa cho anh Hai. Anh Hai không trả lời bằng giấy. Anh nhắn tin: "Mười giờ thứ Năm. Tao cho mày mười lăm phút."
Mười giờ, Lam lên cầu thang nhà điều hành, cùng luật sư Thư. Anh Hai ngồi ở ghế ông Bảy. Anh Tư Phát ngồi trên sô pha. Chị Ba Châu không về được, nhưng cái laptop đặt trên bàn đã mở sẵn cuộc gọi video. Khuôn mặt chị Ba hiện trên màn hình, sau lưng là bức tường trắng treo tấm lịch của văn phòng Sài Gòn. Chỗ ghế dành cho bà Bảy để trống.
– Má không đi. – Anh Tư nói, trước khi ai hỏi. – Má nói tụi bây tự nói với nhau.
Luật sư Thư ngồi xuống, mở cặp. Chị không mở lời. Chị để Lam nói.
– Em đề nghị vầy. – Lam nói, cô đã tập câu này mấy đêm, nói ra vẫn cứng. – Công ty thuê tiếp mười năm. Giá thuê thì mình mời một chỗ thẩm định độc lập, họ nói bao nhiêu thì mình lấy bấy nhiêu, em không đòi hơn. Em chỉ xin hai điều. Một là giữ đủ tài xế, thợ, người làm hiện giờ. Hai là không đem bến này bán hay cho thuê lại cho Đại Phong.
Im lặng. Anh Hai nhìn cô, nhìn luật sư Thư, rồi nhìn đồng hồ.
– Hết chưa?
– Dạ hết.
– Giờ tới tao. – Anh Hai nói. Anh rút ra một tờ giấy, đặt lên bàn, xoay về phía camera của laptop cho chị Ba thấy. – Ngày một tháng Bảy, công ty dời bến. Anh Thịnh có một cái bãi ở phường Trương Quang Trọng, hai ngàn rưỡi mét, có mái che, có văn phòng. Anh ấy cho mình thuê giá hữu nghị. Mười sáu xe, nhân sự, tuyến, dọn qua đó hết. Mày giữ đất thì giữ. Trồng mía, nuôi bò, kệ mày.
– Anh Hai. – Giọng chị Ba trên loa laptop, rè rè. – Bãi đó là bãi đậu. Đâu phải bến xe.
– Thì xin.
– Xin công bố bến xe đâu phải một tháng mà xong. Tuyến cố định mình đăng ký xuất bến ở đây. Dời sang chỗ chưa được công bố là…
– Châu. Ở trong đó em lo văn phòng Sài Gòn đi. Ở ngoài này anh lo.
Màn hình im. Khuôn mặt chị Ba đứng yên, môi mím lại thành một đường thẳng.
Luật sư Thư lúc đó mới lên tiếng, giọng nhẹ như người hỏi đường.
– Anh Hưng, tôi chỉ hỏi để ghi nhận. Vậy là công ty không có nhu cầu gia hạn hợp đồng thuê?
– Không.
– Và công ty sẽ bàn giao lại mặt bằng vào ngày ba mươi tháng Sáu?
– Ừ.
– Còn các công trình công ty đã xây trên đất, nhà điều hành, xưởng, dãy phòng, công ty định tháo dỡ hay để lại?
Anh Hai khựng lại. Anh nhìn quanh căn phòng. Cái bàn gỗ gụ, tấm bản đồ đường bộ tô đỏ, cái tủ kính có mấy mô hình xe khách.
– Cái đó tính sau.
– Dạ. – Thư ghi vào sổ tay. – Tôi ghi nhận như vậy. Chúng tôi sẽ gửi lại biên bản.
Anh Hai đứng dậy. Mười lăm phút chưa hết, nhưng anh không cần hết.
– Tư, tiễn khách.
Anh Tư Phát đứng dậy, đi trước xuống cầu thang. Tới chiếu nghỉ, anh dừng lại, quay đầu nói với Lam, nhỏ tới mức luật sư Thư đi sau cũng không nghe.
– Tối nay tao ghé.
Anh ghé lúc mười một giờ khuya. Anh say.
Lam nghe tiếng xe máy loạng choạng ngoài Quốc lộ, tiếng phanh, tiếng chân đá vào cái chân chống, rồi tiếng ai đó ngồi phịch xuống cái bậc xi măng trước cửa cuốn. Cô kéo cửa lên. Anh Tư ngồi đó, áo sơ mi bỏ ngoài quần, một tay cầm cái mũ bảo hiểm, một tay chống xuống bậc.
– Út.
– Anh Tư. Anh uống bao nhiêu mà chạy xe vậy?
– Không nhiều. – Anh cười, cái cười ngây ngô của người đã uống nhiều. – Ngồi xuống đây với tao.
Lam ngồi xuống bậc cạnh anh. Cô rót cho anh một ly nước lọc. Anh uống, đổ một nửa ra áo.
– Tao nợ người ta một tỷ hai. – Anh nói, như kể chuyện của ai khác. – Đá banh. Cá độ đó mày. Một tỷ hai. Anh Hai biết. Anh Hai nói bán bến xong thì phần của tao đủ trả. Tao không theo anh Hai thì tao chết.
Lam không nói gì.
– Tao xin lỗi mày. – Anh Tư nói. – Hồi sáng tao ngồi đó, tao không nói câu nào. Tao hèn.
– Anh không hèn, anh Tư.
– Tao hèn. – Anh lắc đầu, lắc mạnh tới mức phải chống tay xuống bậc cho khỏi ngã. – Mày nhớ hồi tao dạy mày đi xe đạp không? Ngoài bãi, hồi mày lên sáu. Cái xe đạp mini của con Châu bỏ, tao bơm bánh, tao chạy theo sau cầm yên. Mày té sấp mặt bốn lần. Lần thứ năm mày chạy được nguyên một vòng bãi, tao buông tay lúc nào mày không biết.
– Em nhớ.
– Hồi đó tao mười tám tuổi. – Anh nói. – Mười tám tuổi mà tao còn dám buông tay. Giờ bốn mốt tuổi, tao không dám buông cái gì hết.
Gió nam thổi qua. Mùi rượu trên người anh lẫn mùi khói lá mía ngoài đồng. Ngoài đường, chiếc xe khách cuối cùng của một hãng nào đó chạy ngang, đèn pha quét lên mặt anh, thấy rõ hai hàng nước mắt.
Anh im lâu. Lam tưởng anh ngủ gật. Rồi anh nói, giọng khác hẳn, tỉnh hẳn.
– Mày biết kho số ba không?
Lam quay sang nhìn anh.
– Hồi tao mười hai tuổi. – Anh Tư nói, mắt nhìn vào bóng tối phía cuối khu đất, nơi không thấy được gì ngoài cái bóng đèn bảo vệ vàng vọt. – Tao trốn học, lẻn ra bến chơi. Đi ra phía sau xưởng, chỗ hồi đó còn là đất trống, mới xây cái kho đó. Cửa kho mở. Tao nghe tiếng ai khóc. Tao ngó vô.
Anh dừng lại. Nuốt nước bọt.
– Ba ngồi ở trong đó. Ngồi trên cái bậc của một cái gì to lắm, trùm bạt. Ba khóc. Khóc như con nít, khóc ra tiếng. Tao chưa bao giờ thấy ba khóc. Tới lúc chôn bà nội ba cũng không khóc.
– Rồi sao anh?
– Ba thấy tao. – Anh Tư sờ tay lên má trái mình, như cái tát còn đó. – Ba tát tao một cái, tát tới văng ra ngoài. Ba nói mày mà kể cho ai nghe thì tao từ mày. Tuần sau ba hàn cái cửa đó lại. Từ đó tới giờ tao không kể cho ai.
Anh quay sang Lam. Mắt anh đỏ, nhưng không còn say.
– Ba để cho mày "xe số bảy và những gì ở trong đó". – Anh nói. – Út. Tao nghĩ nó ở trong đó.
— Hết chương 11 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe