Chương 23: Năm sào ruộng mặt đường
Bảy giờ sáng Chủ nhật, một chiếc xe máy cũ chở hai thùng xốp buộc dây thun dừng trước cửa ki-ốt, và người đàn bà quấn khăn rằn ngồi trên xe không tắt máy, không xuống xe, nói vọng vô:
– Con Lam đâu?
Lam đang nằm dưới gầm một chiếc xe tải nhỏ của ông Sáu Khương. Cô nhận ra giọng đó trước khi trườn ra. Cái giọng mặn, khàn, nói câu nào cũng như quăng một cái lưới.
– Dạ, con đây cô Sen.
Cô Sen nhìn cô từ trên yên xe xuống. Cái khăn rằn quấn đầu, cái áo bà ba nâu bạc màu, đôi dép tổ ong. Mặt chị ta đen bóng như vỏ ghe. Cái răng khểnh mím chặt.
– Mày đứng dậy coi.
Lam đứng dậy. Hai tay cô đầy dầu, mặt có một vệt nhớt chạy ngang má.
Cô Sen tắt máy xe. Chị ta bước xuống, gạt chân chống, đứng trước mặt Lam, nhìn cô lâu như cái hôm ở bến ghe. Nhưng lần này cái nhìn khác. Lần này chị ta không nhìn cái trán dô, cái cằm nhọn của má Lam trên mặt cô. Chị ta nhìn cái gì khác, cái gì nằm ở phía sau hai con mắt.
– Thằng con nhà bên đưa tao coi cái đoạn phim trên điện thoại. – Cô Sen nói. – Cái đoạn con nhỏ kia đọc giấy ở bàn thờ ông Bảy. Rồi cái con mụ nào đó hét "con thằng tài xế giết người". – Chị ta ngưng một chút. – Tao coi đi coi lại mười lần.
Lam không nói gì.
– Tao đi từ bốn giờ sáng. – Cô Sen nói. – Tao không biết đường lên đây, tao hỏi tới năm lần.
Chị ta quay lại cái xe máy, cởi dây thun, bưng xuống một thùng xốp, đặt lên bậc ki-ốt. Mở nắp. Bên trong là đá lạnh, và dưới đá là cá. Cá thu một nắng, cá nục, một bịch mực lá còn tươi rói.
– Cá nhà tao. – Chị ta nói. – Ăn đi. Gầy như cây sậy.
Rồi chị ta ngồi phịch xuống cái ghế nhựa trước cửa ki-ốt, khóc.
Không phải khóc như người ta khóc ở đám. Chị ta khóc như người ta bị ai đấm vô bụng, cái miệng há ra mà không ra tiếng, hai vai giật lên, hai bàn tay đen bóng úp lên mặt. Lam đứng trước mặt chị ta, hai tay dính dầu, không biết đặt tay lên đâu.
Bà Tám Dưỡng ở bên kia cổng nhìn qua, rồi đứng dậy, bưng sang một ly trà đá, đặt lên bậc xi măng cạnh thùng cá, rồi lặng lẽ quay về.
– Tao từ má mày. – Cô Sen nói, khi đã nói được. – Mười sáu năm. Má mày chết tao cũng không lên. Người ta báo tin, tao nói con đó không phải người nhà tao.
– Dạ.
– Mày dạ cái gì. – Cô Sen chùi mặt bằng vạt khăn rằn. – Mày phải chửi tao.
– Con không chửi được cô.
– Sao không?
– Hồi đó cô thấy cái mà cả tỉnh thấy. – Lam nói. – Con là con của má mà con còn tin hai mươi chín năm. Cô tin thì có gì lạ.
Cô Sen nhìn cô trân trân. Rồi chị ta bật ra một tiếng gì đó, nửa cười nửa nấc.
– Y như anh Đức. – Chị ta nói. – Bị người ta đạp cũng nói cho người ta khỏi ngượng.
Trưa đó cô Sen không về.
Chị ta xắn tay áo, bước vô ki-ốt như bước vô bếp nhà mình, mở hết mấy cái hũ trên quầy xi măng. Chị ta chê Lam không có nước mắm cho ra nước mắm, chê cái nồi nhôm mỏng, rồi sai Lam chạy ra chợ đầu cầu mua thêm củ nén, ớt xanh, một bó rau muống. Chị ta kho cá nục với củ nén kiểu làng chài, kho khô, mặn, cay xé lưỡi. Chị ta luộc mực, đâm muối ớt xanh trong cái chén sành mượn của bà Tám.
Hai cô cháu ngồi ăn trên cái chõng tre. Cô Sen ăn nhanh, không nói, như người đã quen ăn cơm trên ghe. Ăn xong, chị ta mới nhìn quanh ki-ốt. Nhìn cái quầy xi măng, cái bếp củi đen muội trong góc, ba cây đinh treo áo, cái hộp thiếc in hoa hồng.
– Mười sáu năm má mày ở đây. – Chị ta nói.
– Dạ.
– Chật vầy.
– Dạ. Hồi đó còn chật hơn. Có cái lu nước chỗ này nữa.
Cô Sen gật đầu chậm. Lam lấy cái hộp thiếc, mở ra, đưa cho chị ta tấm ảnh cưới. Chị ta cầm, nhìn lâu, ngón tay cái đen bóng miết lên cái mặt cười toe toét của người đàn ông trong ảnh.
– Bữa đó tao đứng ngay sau lưng thằng chụp hình. – Chị ta nói. – Tao làm ảnh cười.
Ba giờ chiều, nắng đã dịu, cô Sen nói muốn đi coi cái bến. Lam dẫn chị ta đi một vòng. Qua cái nhà điều hành hai tầng, qua dãy phòng tài xế, qua cái xưởng ba hầm, cánh tài xế nằm bến ngồi chỗ quen nhìn theo hai người, không ai nói gì. Tới cuối khu đất, chỗ cái kho số ba, cô Sen dừng lại trước cánh cửa sắt.
– Cái xe ở trong đó?
– Dạ.
– Tao không vô. – Chị ta nói, rồi quay đi, như quay khỏi một cái mộ.
Hai người đi dọc bờ rào gạch giáp ruộng mía. Đi được nửa chừng bờ rào, chỗ có một con mương nhỏ chạy dọc chân rào ra phía Quốc lộ, cô Sen dừng lại. Chị ta nhìn con mương. Nhìn ruộng mía bên kia rào. Nhìn ngược lại cái bến, cái bãi đậu xi măng rộng mênh mông, mấy chiếc xe giường nằm đậu thành hàng.
– Con mương này hồi đó có rồi. – Chị ta nói. – Hồi đó nó là bờ ruộng. Từ chỗ này ra tới đường cái.
Lam đứng cạnh chị ta.
– Ruộng của ai cô?
Cô Sen quay sang nhìn cô. Cái nhìn lạ lắm. Như người ta nhìn một đứa nhỏ hỏi tên của chính nó.
– Mày không biết?
– Con không biết cô.
– Ông nội mày là người ở đây. – Cô Sen nói. – Người Bàu Giang. Dòng họ Tạ có năm sào ruộng hương hỏa mặt đường cái, từ đời ông cố. Ông nội mày về Sa Huỳnh ở rể bà nội mày, đi biển, ruộng để lại cho người trong xóm cấy rẽ, mỗi năm người ta gửi xuống mấy bao lúa. Hồi tao nhỏ, Tết nào ba tao cũng dắt tao với anh Đức lên đây thăm ruộng. Đứng ngay chỗ này. Ngó ra đường cái coi xe đò chạy.
Lam đứng im. Gió nam thổi qua ruộng mía, lá mía xào xạc như tiếng người ta lật giấy.
– Năm chín sáu. – Cô Sen nói tiếp. – Sau vụ Cù Mông. Nhà mấy người chết kéo nhau xuống làng tao. Người ta nói anh Đức lái, anh Đức giết người, nhà họ Tạ phải đền. Ba tao không có tiền. Ba tao đi biển cả đời, có cái ghe với cái nhà. Ba tao bán năm sào ruộng này. Bán tháng Mười. Lấy tiền chia ra đi đền cho bốn nhà. Có nhà nhận, có nhà ném trả lại vô mặt. Bà già bên kia đèo ném trả.
– Bán cho ai cô?
Cô Sen không trả lời ngay. Chị ta nhìn cái nhà điều hành hai tầng, nhìn cái bảng hiệu trên nóc, mấy chữ "Cự Phát" sơn đỏ đã bạc vì nắng.
– Ông Bảy. – Chị ta nói. – Ông Bảy mua. Ông xuống tận làng, ngồi trên cái chõng tre nhà tao, trả giá cao gấp rưỡi người ta hỏi. Ba tao tưởng ổng thương. Cả làng nói ông chủ xe nghĩa hiệp, xe ổng bị thằng tài xế làm chết người mà ổng còn mua giá cao cho nhà thằng tài xế có tiền đền. Ba tao lạy ổng. – Chị ta nhổ một bãi nước bọt xuống con mương. – Ba tao quỳ xuống lạy ổng.
Lam không đứng được nữa. Cô ngồi xuống bờ mương, ngồi trên cỏ, hai tay dính dầu đặt lên đầu gối.
Năm sào ruộng mặt đường. Cái cổng bến, cái nhà điều hành, cái xưởng ba hầm cô chui xuống mười hai năm, cái ki-ốt má cô bán cơm mười sáu năm. Mấy thửa phía sau giáp ruộng mía là ông Bảy mua thêm về sau, gộp chung một sổ. Còn cái lõi của bến, cái phần mặt đường, đứng trên ruộng hương hỏa của dòng họ cô. Một dòng họ mà trước tháng Tư năm nay cô không biết là của mình.
Cô nhớ cái buổi sáng ở văn phòng công chứng, năm cô mười chín tuổi. Cô khóc, cô không chịu ký. Ông Bảy ngồi bên cạnh, không nhìn cô. Ra tới lề đường, cô hỏi vì sao. Ông nói một câu.
"Đất này không phải của tao."
Mười năm nay cô tưởng ông nói vậy vì ông thương cô, nói kiểu người Quảng, nói ngược để khỏi phải nói xuôi. Rồi cô thôi nghĩ tới câu đó. Giờ nó trở lại, đúng từng chữ, giọng ồm của ông, cái mùi thuốc rê trên áo ông.
Ông không cho cô cái gì hết. Ông trả lại.
– Mày sao vậy? – Cô Sen ngồi xuống cạnh cô.
– Năm mười sáu chú Bảy sang tên cái đất này cho con. – Lam nói. – Cả nhà ông không ai hiểu vì sao. Người ta kiện con, nói ổng tưởng con là con ổng nên mới cho. Mà cái đêm có giấy xét nghiệm, cô Bảy ra đây, nói với con một câu. Cô nói ổng biết. Ổng biết con là con anh Đức, biết từ trước khi con ra đời.
Cô Sen nhìn cô. Chị ta nhìn rất lâu. Rồi chị ta nhìn ra cái bãi đậu, nhìn cái nhà điều hành, và cái miệng mím chặt của chị ta từ từ hé ra.
– Ổng trả lại. – Chị ta nói, đúng cái chữ trong đầu Lam.
– Dạ.
– Mua giá cao gấp rưỡi, xây bến, làm giàu hai chục năm trên đó, rồi trả lại cho con của thằng Đức. – Giọng cô Sen chậm lại, từng chữ, như người đếm lưới. – Người ta không làm vậy. Người ta không làm vậy với con của một thằng tài xế làm chết khách của mình. Người ta chỉ làm vậy khi…
Chị ta không nói hết. Lam cũng không bảo chị ta nói hết.
Hai cô cháu ngồi trên bờ mương cho tới khi nắng tắt. Tiếng xe xuất bến đầu tiên của buổi tối rồ máy ở phía trước, tiếng còi tu tu của phụ xe dắt lùi.
– Anh Đức chôn ở đâu cô? – Lam hỏi.
– Nghĩa địa cát sau làng. Mộ đắp đất, có tấm bia xi măng nhỏ, ba tao viết tên bằng ngón tay lúc xi măng còn ướt. – Cô Sen nói. – Ba chục năm không ai thắp nhang, trừ tao. Người trong làng đi ngang còn né.
– Bữa nào cô dắt con xuống.
– Ừ.
Cô Sen đứng dậy, phủi cát dính ở quần. Chị ta nhìn về phía cái kho số ba, cái bóng đèn bảo vệ vừa bật lên, vàng vọt.
– Lam. – Lần đầu tiên chị ta gọi tên cô. – Tao nói cái này. Hồi đó tao nói với công an, nói với cả làng, anh Đức không lái đêm. Không ai nghe tao. Người ta nói người nhà bênh nhau. Mà có một người. Có một người còn sống, ở trên cái xe đó, biết đêm đó ai ngồi chỗ nào.
Lam ngẩng lên.
– Ai cô?
– Thằng lơ xe. – Cô Sen nói. – Năm đó nó bốn mấy tuổi, người Phú Yên. Nó nằm bệnh viện ở Tuy Hòa với ông Bảy. Nó mất một cái chân. Ra viện rồi nó không đi xe nữa, không về Quảng Ngãi nữa. Tao có xuống tìm nó một lần, năm chín bảy. Nó đuổi tao ra khỏi nhà. Nó nói nó không biết gì hết.
– Tên ông đó là gì cô?
– Lộc. Đỗ Văn Lộc. Nhà ở đâu dưới Ô Loan.
Lam ngồi yên trên bờ mương. Cô nghe tiếng máy xe xuất bến, nghe tiếng gió trên ruộng mía, nghe tiếng chị Sáu Liên nói nhỏ trong sạp bà Tám, hai tháng trước, tay khuấy ly trà mãi không thôi.
"Mỗi tháng, ông đưa tiền mặt, chị ra bưu điện gửi vô cho một ông tên Lộc, ở dưới Ô Loan."
Ba triệu mỗi tháng. Từ năm chín mấy.
– Mày biết ổng? – Cô Sen hỏi.
Lam đứng dậy. Cô nhìn về phía nhà điều hành, phía cái cửa sổ trên lầu của phòng kế toán, nơi tối nay không có đèn.
– Con chưa gặp. – Cô nói. – Nhưng con biết có người ba chục năm nay gửi tiền cho ổng.
— Hết chương 23 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe