AI Truyện
Chiếc xe số bảy trong di chúc

🏠 Gia đình & vả mặt

Ba mươi năm không có số bảy

Chiếc xe số bảy trong di chúc · Chương 3/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 3: Ba mươi năm không có số bảy

Sáng thứ Hai, Lam quay lại xưởng, chui xuống hầm số hai, tháo kim phun máy số bốn của xe mười hai ra, đúng chỗ việc cô bỏ dở chiều thứ Năm tuần trước.

Cô không biết làm gì khác. Ba ngày đám tang, đầu cô như cái bình điện bị ai cắm sạc liên tục mà không rút. Giờ chui xuống gầm, ngửi mùi nhớt, nghe tiếng cờ lê chạm vào ốc, cái đầu mới chịu nguội.

Cái kim phun bị muội. Cô ngâm nó vào khay dầu, lấy bàn chải đồng chà. Trên đầu cô, ghế tài xe mười hai trống không. Chú Hòa đã xin đổi qua chạy xe khác một tuần, nói chưa ngồi lại được.

Tám giờ, cánh tài xế nằm bến kéo nhau ra xưởng uống cà phê, như mọi buổi sáng. Cái quán cóc của bà Tám Dưỡng ở cổng bến đã bưng vô sáu ly đen đá và một ly sữa cho Vĩnh. Không ai nhắc chuyện ông Bảy. Họ nhắc chuyện khác.

– Út, nghe nói ổng để cho mày chiếc xe số bảy hả? – Anh Khải xe 02 hỏi, giọng nửa giỡn nửa thương. – Chừng nào lăn bánh, cho tụi tao chạy ké một chuyến.

Lam ngóc đầu ra khỏi hầm.

– Ai nói anh?

– Chị Hai Trinh nói với bà Tám, bà Tám nói với cả bến. – Anh Khải nhún vai. – Giờ cả phường biết.

Mấy người cười. Không ai cười ác. Chỉ có Vĩnh không cười, đặt ly sữa của mình xuống mép hầm cho cô, rồi đi ra.

Lam rửa tay, đi lên nhà điều hành.

Nhà điều hành là căn nhà hai tầng nằm sát Quốc lộ, tầng dưới bán vé, tầng trên là phòng kế toán và phòng làm việc của ông Bảy. Chị Sáu Liên ngồi ở bàn kế toán từ năm hai nghìn lẻ một, ngồi tới mức cái ghế xoay của chị đã lún xuống một bên theo dáng người chị. Chị năm mươi hai tuổi, đeo kính lão, viết số đẹp như in. Mắt chị còn sưng.

– Chị Sáu, em muốn coi sổ tài sản xe.

Chị Liên nhìn cô qua cặp kính, không hỏi để làm gì. Chị đứng dậy, mở cái tủ sắt bốn ngăn, rút ra một xấp bìa còng dày cộm.

– Từ năm hai nghìn lẻ ba, từ hồi lập công ty. Mỗi xe một bìa. Ngày mua, giá mua, đăng kiểm, sửa chữa lớn, ngày thanh lý.

Lam lật. Xe 01, mua lại năm 2003, thanh lý năm 2011, thay bằng xe 01 mới. Xe 02. Xe 03. Có những con số đã qua tay ba bốn đời xe, mỗi lần thanh lý thì xe mới mang lại đúng số cũ. Xe 06. Rồi tới xe 08.

Không có bìa nào ghi số 07. Không có dòng nào gạch bỏ, không có xe nào thanh lý mang số đó. Con số chỉ đơn giản là không tồn tại, như cái bậc thang bị bỏ trống mà ai cũng quen bước qua.

– Trước năm hai nghìn lẻ ba thì sao chị?

– Trước đó là hợp tác xã, giấy tờ ông giữ hết. – Chị Liên lắc đầu. – Chị vô làm thì nhà xe có tám chiếc, chạy xe ngồi, chưa có giường nằm. Lúc đó cũng đã không có số bảy rồi.

– Chị có hỏi ông lần nào không?

– Có. – Chị Liên tháo kính ra lau. – Hỏi một lần, hồi mới vô. Ông nói, đếm xe mà còn đếm sai thì về nhà mà ngủ.

Cả hai cùng im một lúc. Ngoài cửa sổ, chiếc xe 05 đang lùi vào bãi, phụ xe đứng sau thổi còi tu tu.

Lam cất bìa vào tủ. Lúc cô quay ra cửa, chị Liên gọi lại, giọng nhỏ hẳn xuống, mắt nhìn về phía cầu thang.

– Lam.

– Dạ.

– Ông có dặn chị. Chuyện kia, chờ qua ba tuần.

Lam đứng yên ở ngưỡng cửa. Cô gật đầu một cái. Chị Liên đeo kính lại, cúi xuống bàn, như chưa nói gì.

Bà Tám Dưỡng bán nước ở cổng bến bốn mươi năm, từ hồi chỗ này còn là ruộng, còn là cái bãi đất có mấy cái quán tranh cho xe dừng ăn cơm. Bà bảy mươi lăm tuổi, răng còn đủ, nhớ dai như sổ hộ khẩu. Lam ngồi xuống cái ghế nhựa thấp trước sạp bà, gọi một ly trà đá.

– Bà Tám, hồi xưa nhà xe có xe số bảy không bà?

Bà Tám đang lau cái ly, tay khựng lại một tí.

– Hỏi chi chuyện đó.

– Con hỏi chơi.

– Có. – Bà đặt ly xuống. – Xui. Dân xe kiêng thì kiêng, hỏi chi.

– Xui sao bà?

Bà Tám nhìn ra Quốc lộ một lúc lâu. Một chiếc xe tải chở mía chạy ngang, mấy khúc mía rớt xuống mặt đường, bị bánh sau cán bẹp.

– Bà già lẫn rồi. – Bà nói. – Uống trà đi con, đá tan hết.

Lam uống. Trà đá ở sạp bà Tám pha bằng trà Bắc, chát xít đầu lưỡi, má cô hồi xưa hay chê. Hồi đó, ki-ốt cơm của má ở ngay bên kia cổng, cách sạp bà Tám chưa tới chục bước chân. Má bán cơm từ năm giờ sáng tới chín giờ tối. Cơm tấm sườn, cá bống kho tiêu, canh chua cá lóc, hai mươi lăm nghìn một dĩa thời đó. Lam lớn lên giữa hai cái sạp ấy, ngủ trưa trên cái chõng tre sau quầy, làm bài tập dưới bóng đèn tuýp có con thằn lằn bám. Mỗi chiều ông Bảy ghé, không ngồi, chỉ đứng ở ngưỡng ki-ốt, hỏi má cô vài câu, để lại một bịch sữa hộp hoặc một bịch trái cây, rồi đi.

Năm Lam học lớp ba, có thằng bạn cùng lớp chặn đường cô ngoài cổng trường, hỏi: mày là con rơi ông Bảy Cự hả? Lam không biết con rơi là gì. Chiều đó về cô hỏi má. Má đang chặt sườn, dao dừng giữa chừng.

– Ai nói?

– Thằng Tí lớp con.

– Ba con mất trước khi con sinh. – Má nói. – Đừng hỏi nữa.

Rồi má khóc. Má không khóc to, chỉ để nước mắt chảy xuống cằm, tay vẫn chặt sườn đều đều. Lam sợ, không dám hỏi thêm câu nào nữa. Kể cả mười mấy năm sau, khi má nằm trên giường bệnh viện tỉnh, gầy như cây sào, bụng chướng lên vì nước, cô cũng không hỏi. Ông Bảy ngồi ngoài hành lang suốt mười một đêm liền. Má mất tháng Chín năm hai nghìn mười hai. Lam mười lăm tuổi. Ông Bảy dắt cô về bến, mở căn phòng cuối dãy phòng tài xế, nói: "Ở đây. Đi học tiếp. Tiền học tao lo." Ông không nói thêm gì. Năm cô mười bảy, cô bỏ học lớp mười một, xuống xưởng xin học nghề. Ông chửi cô một trận, chửi suốt một buổi chiều, rồi tối đó ông ném cho cô một bộ đồ nghề mới, cái hộp sắt màu đỏ, còn nguyên giấy dầu.

Cả phường gọi cô là con rơi. Cô chưa bao giờ hỏi ông. Ông chưa bao giờ nói. Ông gọi cô là "cháu", cô gọi ông là "chú Bảy". Hai chữ đó đã giữ hai người cách nhau đúng một khoảng vừa đủ, suốt mười bốn năm.

Sáng thứ Ba, anh Hai Hưng tới bến.

Anh đi chiếc bảy chỗ, đậu ngay trước cửa xưởng, chỗ xưa nay ông Bảy cấm đậu vì vướng lối xe ra hầm. Đi cùng anh là một người đàn ông chừng gần bốn mươi, bụng to, áo thun có cổ bỏ vào quần, đeo đồng hồ mặt vàng. Lam biết người này. Đinh Văn Lực, em trai chị Trinh, trước có mở một tiệm sửa xe máy ở chợ, rồi đóng cửa, rồi mở tiệm rửa xe ô tô, rồi lại đóng.

Anh Hai bảo bảo vệ đánh kẻng gom người. Mười một người trong xưởng, sáu tài xế nằm bến, hai phụ xe, chị Liên từ nhà điều hành đi xuống. Họ đứng thành một vòng lỏng quanh cái bàn máy khoan.

– Tôi nói ngắn. – Anh Hai nói. – Ba tôi đi rồi. Công ty tôi là giám đốc từ năm hai nghìn mười tám, giờ vẫn là tôi. Có mấy thay đổi. Một: anh Lực đây từ hôm nay làm quản đốc xưởng. Mọi việc sửa chữa, mua phụ tùng, báo anh Lực. Hai: tổ trưởng xưởng bỏ. Ai làm thợ thì làm thợ.

Mọi người không nhìn anh Hai. Họ nhìn Lam. Cô đứng ở mép vòng, hai tay còn dính dầu, cầm cái giẻ.

– Ba: dãy phòng nghỉ là để cho tài xế chạy tuyến nghỉ. Ai không phải tài xế thì dọn ra. – Anh Hai nhìn thẳng Lam. – Hạn tới ba mươi mốt tháng này.

– Dạ. – Lam nói.

Một tiếng xì xào chạy quanh vòng người. Chú Năm Trọng đứng ở phía bên kia, khoanh tay, hàm bạnh ra.

– Anh Hai. – Chú Năm lên tiếng. – Con Lam ở đó từ hồi mười lăm tuổi. Phòng cuối, có ai dùng đâu.

– Chú Năm. – Anh Hai cười, nụ cười của người đã chuẩn bị sẵn câu trả lời. – Đây là công ty, không phải nhà tình thương. Ba tôi thương ai là chuyện của ba tôi. Giờ làm ăn phải có quy củ. Ai có ý kiến thì cứ ý kiến, nhưng ý kiến xong thì cũng phải làm theo, không thì nghỉ.

Chú Năm không nói nữa. Anh Hai quay sang Lực, vỗ vai.

– Anh Lực đi một vòng coi xưởng đi. Lam, chỉ cho anh Lực.

Lam dẫn Lực đi một vòng. Ba cái hầm, cái máy nén hơi, kệ phụ tùng, khu rửa gầm, khu gò hàn. Lực đi sau lưng cô, hỏi mấy câu, và cứ mỗi câu anh ta hỏi thì cái khoảng cách giữa anh ta với cái xưởng lại rộng ra thêm một chút. Anh ta gọi cái lọc tách nước là "cái bình lọc nhớt". Anh ta hỏi xe giường nằm thì có phải thay dây curoa cam như xe máy không. Tới khu gò hàn, anh ta chỉ cái bình gió đá hỏi có phải bình ga nấu ăn không.

Lam trả lời từng câu. Đúng, đủ, không thêm một chữ.

Tới cuối xưởng, chỗ góc sau cùng của khu đất, sát bờ rào gạch giáp ruộng mía, Lực dừng lại trước một căn nhà gạch dài. Nhà không cửa sổ, mái tôn đã rỉ đỏ, cửa sắt hai cánh cao quá đầu người. Đường hàn chạy dọc mép hai cánh cửa, chạy cả xuống chân, hàn chết vào khung. Dây bìm bìm leo kín một bên tường, hoa tím nở lấm tấm.

– Cái gì đây?

– Kho số ba. – Lam nói. – Đựng nhớt cũ với hóa chất. Chú Bảy hàn lại, cấm mở.

– Hàn lại bao lâu rồi?

– Từ trước khi em sinh.

Lực gõ gõ lên cánh cửa sắt. Tiếng kêu đục và rỗng.

– Nhớt cũ gì mà để ba chục năm. – Anh ta nói. – Đồ bỏ.

Tối thứ Tư, cánh tài xế nằm bến làm một mâm nhậu nhỏ ngoài bãi, sau dãy phòng, như mỗi lần có ai trong bến mất. Một nồi don, mấy dĩa cá bống chiên, một can rượu gạo của nhà ai dưới xóm gửi lên. Họ không mời Lam, nhưng họ cũng không đuổi. Cô ngồi trên bậc cửa phòng mình, cách mâm chừng chục bước, ăn chén don chú Hòa múc cho.

Chú Năm uống nhiều nhất. Gần mười giờ thì chú đứng dậy, loạng choạng đi ra phía sau xưởng, chỗ góc khu đất. Lam tưởng chú đi tiểu. Mười phút chú chưa về. Cô cầm đèn pin đi tìm.

Chú Năm đứng trước kho số ba. Không làm gì. Chỉ đứng, tay buông thõng, nhìn cánh cửa sắt hàn kín dưới ánh đèn bảo vệ vàng vọt. Điếu thuốc rê trên tay chú đã tắt từ lâu.

– Chú Năm.

Chú không quay lại.

– Chú về ngủ đi chú, sương xuống rồi.

– Xe bảy có thiệt. – Chú Năm nói, giọng ồm và đặc, nói với cánh cửa chứ không phải với cô. – Có thiệt đó con.

Lam đứng lặng. Đèn pin trên tay cô run một chút, cái quầng sáng chạy lên chạy xuống trên lớp sơn rỉ.

– Nó ở đâu chú?

Chú Năm quay lại. Mặt chú đỏ vì rượu, nhưng mắt thì tỉnh, tỉnh tới mức làm Lam lạnh gáy.

– Đừng hỏi chú. – Chú nói. – Chú đã hứa với ổng rồi.

Chú đi ngang qua cô, về phía dãy phòng. Lam đứng lại một mình trước kho số ba. Cô lia đèn pin lên đường hàn. Đó là một đường hàn hồ quang cũ, mối hàn vảy cá đều tăm tắp, kiểu hàn mà cả cái bến này chỉ có một người hàn được như vậy.

Người đó đã nằm dưới đất từ trưa Chủ nhật.

— Hết chương 3 —

Mục lục Chiếc xe số bảy trong di chúc

  1. 1Máy còn nổ ở hầm số hai11 phút
  2. 2Xe tang chết máy trên cầu Bàu Giang11 phút đọc
  3. 3Ba mươi năm không có số bảy11 phút đọc
  4. 4Ông khách đi xe màu bạc10 phút đọc
  5. 5Bảng kê mười sáu chiếc xe10 phút đọc
  6. 6Bốn cái tên ở khúc cua11 phút đọc
  7. 7Những dòng chi khác10 phút đọc
  8. 8Một cái tên trên trích lục12 phút đọc
  9. 9Ngày hai mươi mốt11 phút đọc
  10. 10Bộ vest xám ở phường Cẩm Thành10 phút đọc
  11. 11Ki-ốt cơm ở góc cổng11 phút đọc
  12. 12Mối hàn ba mươi năm10 phút đọc
  13. 13Ghế tài lùi nấc cuối10 phút đọc
  14. 14Cô Sen ở làng chài10 phút đọc
  15. 15Bãi đậu không phải bến10 phút đọc
  16. 16Bà Tám Dưỡng kể9 phút đọc
  17. 17Đường ra Đà Nẵng10 phút đọc
  18. 18Không cùng một dòng máu10 phút đọc
  19. 19Con của Tạ Văn Đức12 phút đọc
  20. 20Xưởng Út Lam11 phút đọc
  21. 21Tờ cọc sáu tỷ11 phút đọc
  22. 22Ray ghế ở nấc cuối11 phút đọc
  23. 23Năm sào ruộng mặt đường11 phút đọc
  24. 24Người lơ xe ven đầm Ô Loan10 phút đọc
  25. 25Ba triệu mỗi tháng10 phút đọc
  26. 26Ghế số chín10 phút đọc
  27. 27Buổi hòa giải ở tòa11 phút đọc
  28. 28Quáng gà11 phút đọc
  29. 29Cuộc gọi lúc ba giờ sáng10 phút đọc
  30. 30Mười sáu chiếc xe đứng yên10 phút đọc
  31. 31Phần của má10 phút đọc
  32. 32Bàn tiệc Đại Phong10 phút đọc
  33. 33Đơn rút10 phút đọc
  34. 34Cái tên thứ năm10 phút đọc
  35. 35Xe số bảy lăn bánh10 phút đọc
  36. 36Giỗ đầu10 phút đọc

Về truyện này

Chiếc xe số bảy trong di chúc là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Khánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →