Chương 18: Không cùng một dòng máu
Lễ chung thất của ông Bảy Cự có ba vị sư tụng kinh. Suốt hai tiếng mõ gõ đều, Lam đứng ở hàng chót, sát cửa ra hiên, nhìn cái bàn thờ qua vai của hơn bốn chục người.
Cô tới vì chị Ba mời. Cô mặc cái áo sơ mi trắng duy nhất còn lại sau khi cái kia dính dầu hôm đưa tang, quần đen, tóc cột gọn. Lúc cô bước qua cổng, chị Trinh đang đứng ở hiên phát nhang, nhìn thấy cô, mặt sầm xuống, mở miệng định nói gì đó. Chị Ba đứng sau lưng chị Trinh, nói trước: "Em mời." Chị Trinh ngậm miệng.
Mùi trầm dày đặc trong phòng khách. Trên bàn thờ, ngoài mâm cơm chay, còn có đĩa xôi, đĩa trái cây ngũ quả, bình hoa huệ trắng. Tấm ảnh ông Bảy mặc vest nâu đã được thay khung mới, khung gỗ chạm. Bà Bảy ngồi ở cái ghế bành sát bàn thờ, áo tràng lam, tay lần tràng hạt theo nhịp mõ. Anh Hai đứng hàng đầu, cạnh mấy ông chú họ. Anh Tư đứng sau anh Hai, cứ chốc chốc lại ngoái đầu nhìn ra cửa.
Chị Ba không có mặt. Chị đi Đà Nẵng từ năm giờ sáng.
Mười một giờ rưỡi, ba vị sư tụng xong, được mời ra hiên dùng cơm chay. Bà con trong họ ngồi rải rác, chờ dọn mâm. Không khí lửng lơ, ai cũng biết hôm nay có một chuyện, mà không ai nói ra. Ông Út Đáng ngồi uống trà, mắt liếc ra cổng. Mấy bà cô xì xào. Lam nghe được chữ "xét nghiệm", nghe được chữ "con thằng Đức".
Mười hai giờ năm phút, tiếng taxi đỗ ngoài hẻm.
Chị Ba bước vào. Chị cầm một cái phong bì giấy trắng khổ lớn, mép dán băng keo đỏ có in chữ niêm phong. Chị không chào ai. Chị đi thẳng tới bàn thờ, đứng cạnh cái ghế bành của bà Bảy, quay mặt ra phòng khách.
– Thưa má. – Chị nói. – Thưa bà con. Con có đi làm xét nghiệm với Lam ở Đà Nẵng hôm thứ Hai. Con với Lam, với thằng Tư. Đây là kết quả. Con chưa mở. Con mở ở đây.
Cả phòng im. Mấy người ngồi ngoài hiên đứng dậy, chen vào khung cửa. Mấy đứa cháu lại giơ điện thoại lên. Lần này không ai cản.
Anh Hai đứng khoanh tay. Mặt anh không giấu được một thứ gì đó giống như hy vọng.
Chị Ba xé băng keo niêm phong. Tiếng giấy xé rõ mồn một trong căn phòng im. Chị rút ra hai tờ giấy. Chị đọc tờ thứ nhất, đọc thầm trước, đọc chậm. Lam đứng ở cuối phòng, thấy môi chị Ba mấp máy, thấy mắt chị dừng lại ở một dòng, dừng rất lâu.
Rồi chị Ba ngẩng lên, đọc thành tiếng. Giọng chị phẳng, đều, như đọc một bảng đối chiếu sổ sách.
– "Kết quả phân tích các điểm đánh dấu trên nhiễm sắc thể X của hai mẫu Lương Thị Mỹ Châu và Tạ Thị Lam cho thấy hai mẫu không có chung các alen tại nhiều vị trí khảo sát. Kết luận: loại trừ khả năng hai người có cùng cha ruột."
Chị lật tờ thứ hai.
– "Kết quả phân tích các điểm đánh dấu trên nhiễm sắc thể thường của hai mẫu Lương Thành Phát và Tạ Thị Lam: chỉ số quan hệ anh chị em cùng cha rất thấp. Kết quả phù hợp với kết luận loại trừ ở trên."
Chị Ba hạ hai tờ giấy xuống.
Không ai nói gì trong một khoảng thời gian dài tới mức Lam nghe được tiếng nhang cháy xèo xèo trong bát hương.
Rồi chị Trinh nói. Chị đứng ở cửa bếp, và chị nói to, to hơn bất cứ lúc nào cô từng nghe chị nói, to như người ta hô một cái khẩu hiệu đã nín nhịn trong bụng cả đời.
– Con thằng tài xế giết người!
Câu đó nổ ra trong phòng khách như một cái lốp xe nổ trên đèo.
– Con thằng Đức! – Chị Trinh nói tiếp, nước mắt chảy ra, không biết vì gì. – Không phải con ông Bảy! Nó không có một giọt máu nào của nhà này! Bà con nghe chưa? Mười mấy năm nó ăn ở nhà này, nó cầm cái bến của nhà này, mà nó là con của thằng làm chết năm mạng người ở Cù Mông!
Mấy bà cô kêu "trời đất". Ông Út Đáng đặt chén trà xuống, đứng dậy. Ngoài hiên có tiếng ai đó nói "tui nói rồi mà".
Anh Hai bước lên một bước. Anh nhìn tờ giấy trong tay chị Ba, rồi nhìn xuống cuối phòng, nhìn thẳng vào Lam. Mặt anh đỏ lên, rồi bừng lên một thứ gì như ánh sáng.
– Vậy là ba bị lừa. – Anh nói. – Mày nghe chưa? Ba bị lừa. Ba tưởng mày là con ba. Ba cho mày cái bến vì ba tưởng. Ba bị má mày lừa, bị mày lừa…
– Anh Hai. – Chị Ba nói. Giọng chị không to, nhưng anh Hai dừng lại. – Tờ giấy này nói Lam không phải con ba. Nó không nói ba bị lừa.
– Thì nó…
– Nó không nói. – Chị Ba lặp lại. – Em đọc kỹ rồi. Nó chỉ nói một điều. Anh muốn suy ra điều khác thì anh đi chứng minh. Đừng bắt tờ giấy nói thay anh.
Anh Hai nhìn em gái mình như nhìn kẻ phản bội. Anh không nói gì nữa.
Anh Tư Phát không đứng ở chỗ cũ. Lam không thấy anh rời đi lúc nào. Một lúc sau cô mới thấy anh, ngoài sân sau, chỗ cái giếng đã đậy nắp, quay lưng vào trong nhà, hai tay chống lên thành giếng, cái lưng rung lên từng đợt.
Lam nhìn bà Bảy.
Bà Bảy vẫn ngồi trên ghế bành. Bà không quay sang chị Ba, không nhìn tờ giấy, không nhìn chị Trinh đang khóc, không nhìn anh Hai đang đỏ mặt. Hai bàn tay bà vẫn lần tràng hạt, đều đặn, từng hạt, từng hạt, như lúc ba vị sư còn đang tụng kinh. Mặt bà không đổi.
Lam đứng đó, và cô hiểu ra một điều trước cả khi cô kịp nghĩ cho thành chữ: trong căn phòng bốn chục người này, chỉ có một người không bất ngờ.
Cô quay ra cửa. Cô đi qua hiên, qua mấy vị sư đang ngồi dùng cơm chay, qua đám xe máy dựng ngoài hẻm. Không ai gọi cô lại.
Cô đi bộ về bến. Ba cây số Quốc lộ, giữa trưa, nắng tháng Tư đổ thẳng xuống mặt đường nhựa bốc hơi, xe tải chạy qua thổi gió nóng rát vào mặt. Cô đi ở mép đường, sát lề cỏ, đi đều, không nhanh không chậm. Cô không khóc. Cô thấy lạ là mình không khóc.
Ở ngã ba vô bến có một tiệm sửa xe máy. Ông chủ tiệm biết cô, mười mấy năm nay hai bên hay mượn đồ nghề nhau. Ông đang ngồi vá săm, ngẩng lên thấy cô, mở miệng định chào, rồi ngậm lại, cúi xuống vá tiếp.
Tin chạy nhanh hơn chân cô.
Ở cổng bến, bà Tám Dưỡng đứng chờ. Bà không nói gì, chỉ đưa cho cô một ly trà đá. Lam cầm, không uống. Bên trong bến, mấy tài xế nằm bến đang ngồi ở chỗ quen. Cô đi ngang qua. Anh Khải nhìn cô, rồi nhìn xuống đất. Hai người tài xế mới quay mặt đi chỗ khác. Chú Năm Trọng ngồi trên bậc phòng nghỉ thợ, hút thuốc, không ngẩng lên.
Chỉ có Vĩnh đứng dậy. Anh đi theo cô tới cửa ki-ốt. Anh không nói gì.
– Anh về đi anh Vĩnh. – Lam nói. – Người ta thấy.
– Kệ người ta.
– Em là con của… – Cô nói, rồi không nói tiếp được.
– Út là Út. – Vĩnh nói. Anh nói câu đó như người ta nói xe số mấy, chạy tuyến nào, đơn giản như vậy. Rồi anh quay về phòng.
Lam kéo cửa cuốn xuống một nửa. Cô ngồi lên cái chõng tre.
Điện thoại rung. Tin nhắn của luật sư Thư: "Chị biết rồi. Hợp đồng vẫn vậy. Nhưng từ hôm nay họ sẽ không nói ông tin nhầm nữa. Họ sẽ nói em biết mà vẫn để ông tin. Mai chị qua. Ăn cơm đi."
Lam đặt điện thoại xuống.
Cô với tay lấy cái túi ni lông trong để trên quầy xi măng. Đôi giày len vàng nằm trong đó. Cô lấy nó ra, đặt lên lòng bàn tay. Hai chiếc giày nhỏ xíu, mỗi chiếc dài chừng một đốt ngón tay rưỡi, cái ruy băng trắng ở cổ đã ngả màu ngà.
"Ảnh tưởng là con ảnh," cô Sen đã nói vậy.
Không phải tưởng.
Cô nhìn đôi giày, và lúc đó, chứ không phải lúc chị Ba đọc tờ giấy, chứ không phải lúc chị Trinh hét lên, chứ không phải lúc đi bộ ba cây số giữa trưa, lúc đó cô mới khóc. Khóc không thành tiếng. Nước mắt rơi xuống đôi giày len, thấm vào sợi len vàng, làm cái màu vàng xỉn tối lại thành từng chấm nhỏ.
Cô khóc cho một người cô chưa từng gặp. Một người đã mua đôi giày này ở chợ Bà Chiểu, đã gọi về bưu điện xã khoe với em gái. Một người đã gói nó cẩn thận, buộc thun, để dưới gối ở băng ghế cuối của một chiếc xe khách, rồi nằm xuống ngủ, và không bao giờ dậy nữa. Một người cả vùng gọi là kẻ giết người. Một người cô đã gọi là "anh Đức" ngay trước mặt em gái anh ta.
Ba cô.
Cô ngồi trong ki-ốt cho tới tối. Cô không bật đèn. Ngoài cổng, xe xuất bến, đèn pha quét qua vách gạch, một vệt, hai vệt, cho tới vệt thứ mười, rồi hết.
Gần mười một giờ đêm, có tiếng xe máy dừng trước cửa ki-ốt. Không phải tiếng xe tải. Tiếng một chiếc xe số cũ, máy nổ lụp bụp, rồi tắt. Tiếng người nói nhỏ: "Bà ngồi đó chờ con chút nghen." Tiếng chân bước xuống, chậm, kéo lê.
Lam kéo cửa cuốn lên.
Bà Bảy đứng dưới ánh đèn đường. Vẫn cái áo tràng lam lúc trưa, khoác thêm cái áo len mỏng màu xám. Tóc bà búi gọn. Chú xe ôm quen ngồi chờ trên xe cách đó mấy bước, quay mặt đi chỗ khác, rít thuốc.
Lam đứng dậy. Cô không biết phải nói gì. Cô chỉ đứng đó, sau cái ngưỡng ki-ốt, hai tay buông thõng.
Bà Bảy không bước vào. Bà đứng ở ngoài, ngay ngưỡng cửa, cách cái bậc xi măng nửa bước chân. Đúng chỗ ông Bảy từng đứng mỗi chiều, mười sáu năm.
Bà nhìn cô. Nhìn đôi giày len vàng Lam còn cầm trên tay. Nhìn rất lâu.
– Ổng biết. – Bà Bảy nói.
Giọng bà khàn đặc, như giọng người đã không nói chuyện với ai cả ngày.
– Ổng biết. Ổng biết từ trước khi con ra đời.
Bà quay lưng. Bà đi về phía chiếc xe ôm, từng bước chậm, kéo lê. Chú xe ôm vứt điếu thuốc, đỡ bà lên xe. Chiếc xe số cũ nổ máy lụp bụp, lùi ra, rồi chạy ngược về phía cầu Bàu Giang.
Lam đứng ở ngưỡng ki-ốt, cho tới khi tiếng máy xe tan hẳn vào tiếng Quốc lộ.
— Hết chương 18 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe