Chương 36: Mùng Một ở Quy Nhơn
– Tết mà không đổ bánh xèo thì không phải Tết nhà này.
Má cô nói vậy lúc năm giờ sáng mùng Một, khi Dao xuống bếp. Má đã nhóm xong hai lò than, xếp sáu cái khuôn đất nung thành một hàng, thau bột gạo pha nghệ vàng óng để bên cạnh, rổ tôm nhảy còn búng tanh tách.
Hơn bốn chục năm má bán bánh xèo ở chợ, từ hồi mười lăm tuổi ngồi đổ phụ bà ngoại. Chiều nào cũng đổ, trừ ba ngày Tết. Ba ngày Tết má đổ cho nhà. Dao lớn lên với mùi bánh xèo sáng mùng Một, trước cả mùi nhang.
Sân trước nhà đã quét sạch từ chiều hai mươi chín. Cái hiên lát gạch tàu đỏ, chỗ ba cô hay ngồi đã mòn lõm, được lau bóng. Trên bàn thờ có mâm ngũ quả, cặp bánh tét, một nhành mai vàng Phong chở từ chợ về hôm hai mươi tám, nở được mười mấy bông. Gió bấc đã ngớt. Trời Quy Nhơn sáng mùng Một trong, lạnh se, biển sau dãy phi lao xanh thẫm, sóng vỗ lớp lớp đều đều như người ta thở.
Trung ngồi ở cái ghế đẩu nhỏ trong góc bếp, quạt lò than cho má. Anh tới từ chiều hai mươi tám, đi chung chuyến xe giường nằm với Dao, xách theo một thùng cam và hai hộp chè xanh Nghệ An. Má cô nhìn anh từ đầu xuống chân một lần, rồi giao cho anh cái quạt nan. Từ đó tới giờ anh không rời cái lò than.
– Mạ anh gọi chưa? – Dao hỏi nhỏ.
– Gọi rồi. Từ bốn giờ. – Trung nói, mặt đỏ vì hơi lửa hay vì cái gì khác thì cô không biết. – Mạ chửi anh Tết không về. Rồi mạ hỏi con nhỏ đó người răng. Anh nói người Bình Định, coi gỗ bằng kính lúp. Mạ nói rứa thì được, mùng Ba dắt về cho mạ coi mặt.
Má cô đặt khuôn bánh xuống lò, múc một vá bột đổ vào. Bột xèo lên một tiếng, tôm nhảy cong đỏ lại.
– Thằng Nghệ này quạt lò được. – Má nói, không nhìn ai.
Sáu giờ, cả nhà ngồi quanh mâm bánh xèo ngoài hiên. Ba cô ngồi ở cái ghế quen, cây gậy ba chân dựng cạnh tường. Phong ngồi bên phải ông, rót trà. Tết này nó về từ giữa tháng Chạp, không đi đâu, ngày nào cũng ở nhà sửa lại cái hàng rào tre, phụ má gói bánh, chở má đi chợ. Ba cô chưa nói với nó câu nào dài. Nhưng sáng nay ông đưa cho nó cái bánh xèo đầu tiên.
Họ ăn. Bánh giòn rụm, thơm mùi nghệ, mùi mỡ hành. Chấm nước mắm ớt tỏi, cuốn rau sống, cải xanh, diếp cá. Trung ăn năm cái. Má cô đổ thêm. Anh ăn thêm hai cái. Ba cô nhìn anh ăn, không nói gì, chỉ gắp cho anh thêm một con tôm.
– Mùng Ba đi Nghệ hả? – Ba cô hỏi.
– Dạ. Đi tàu.
– Ừ. – Ba cô nói. Ông nhai chậm miếng bánh, nuốt xong mới nói tiếp. – Ra tới nhà thì nói với mạ con. Nhà bác ở dưới Ghềnh Ráng, có cái hiên, sau lưng là biển. Mùa lũ ngoài đó nước vô tới thềm thì vô đây mà ở.
Trung cúi đầu dạ, hai tay đặt trên đùi như học trò. Má cô đứng trong cửa bếp nghe, quay mặt đi chỗ khác mà cười, cái vá bột còn cầm trên tay.
Chín giờ sáng, có tiếng xe hơi đậu ở đầu con đường đất.
Ba cô ngẩng lên. Ông không đứng dậy. Ông chỉ nhìn ra sân.
Ông Viễn đi bộ vào từ đầu đường. Một mình. Áo sơ mi trắng bỏ ngoài quần, dép quai hậu mòn gót. Trên vai ông vác một vật dài, quấn trong bao bố, cột dây gai, dài gần bằng người ông.
Ông đứng ở mép sân, nhìn căn nhà mái ngói, nhìn cái hiên lát gạch tàu, nhìn dãy phi lao phía sau. Như người về thăm nhà nhìn lại cái sân.
– Vô đi. – Ba cô nói. – Đứng đó chi.
Ông Viễn bước vào. Ông đặt cái vật dài quấn bao bố xuống nền hiên, cạnh chân ghế của ba cô. Rồi ông ngồi xuống cái ghế mà Phong vừa đứng dậy nhường. Má cô đi vào bếp, bưng ra một dĩa bánh xèo mới, đặt trước mặt ông, không nói câu nào, rồi đứng sau lưng ba.
Ông Viễn nhìn dĩa bánh xèo rất lâu.
– Hồi đó. – Ông nói. – Con Thoan còn ngồi đổ phụ má nó ở đầu chợ. Tôi với ông Mạch đi làm về, tối nào cũng ghé, ăn thiếu.
– Còn thiếu bốn chục cái. – Má cô nói. – Tôi nhớ.
Ông Viễn cười. Ba cô cũng cười.
Rồi ông Viễn cúi xuống, tháo sợi dây gai, mở lớp bao bố ra.
Một cái lưỡi cưa tay. Dài gần hai mét, thép đã đen, răng cưa mòn lởm chởm, hai đầu có hai cái tay cầm bằng gỗ, gỗ đã lên nước bóng như sừng. Ba cô nhìn nó. Bàn tay trái của ông, bàn tay thiếu hai đốt ngón, đặt trên đầu gối, khẽ co lại.
– Hợp tác xã giải thể năm chín mươi. – Ông Viễn nói. – Tôi nhờ người ở đây mua lại cái này, gửi vô trong đó. Giữ ba mấy năm. Không đem ra lần nào.
Ba cô không nói gì. Ông cúi xuống, đưa bàn tay trái ra, đặt lên cái tay cầm bằng gỗ ở một đầu lưỡi cưa. Cái tay cầm của người đứng dưới. Ông nắm lấy nó bằng ba ngón tay rưỡi. Rồi ông buông ra.
– Còn chắc. – Ông nói.
Ngoài ngõ có tiếng ai đó hắng giọng, rồi tiếng dép lẹp xẹp. Ông Chín Lù chống cây gậy tre đi vào sân, miệng nhai trầu, cái áo dài đen lễ Tết rộng thùng thình, chắc cả năm mới lấy ra mặc một lần. Ông đi chúc Tết từ đầu xóm, tới nhà này là nhà thứ bảy.
Ông đứng sững giữa sân. Ông nhìn ông Viễn. Ông nhìn cái lưỡi cưa nằm trên nền hiên. Ông nhổ bã trầu ra đất, đưa tay chùi miệng.
– Thằng Viễn. – Ông Chín nói. Rồi ông quay sang ba cô. – Mạch. Tao nói rồi. Tao nói con Dao là thế nào nó cũng mò ra.
– Mày nói cái gì. – Ba cô nói. – Mày nói mày già rồi mày không nhớ.
– Thì tao không nhớ. – Ông Chín cười móm mém, ngồi phịch xuống bậc thềm. – Tao không nhớ mà tao biết.
Ông Viễn đứng dậy, chắp tay chúc Tết ông Chín. Ông Chín nhìn ông từ đầu xuống chân, dừng ở đôi dép quai hậu mòn gót.
– Giàu mà còn đi cái dép này. – Ông Chín nói. – Được. Còn đi dép là còn nhớ đường.
Má cô bưng ra thêm một dĩa bánh xèo, thêm một cái chén. Ông Chín ăn ba cái, chê nước mắm năm nay ngọt quá, rồi ăn thêm cái thứ tư.
Ba cô với tay vào túi áo sơ mi. Cái áo sơ mi xanh hồi cưới, ông mặc từ sáng. Ông lấy ra cái kính lúp vỏ đồng. Hôm hai mươi tám, lúc Dao vừa về tới nhà, ông đã hỏi cô cái kính trước cả khi hỏi cô ăn gì chưa. Ông cầm nó trong tay một lúc, ngón cái lần lên vết móp ở mép nắp. Rồi ông đưa nó cho ông Viễn.
– Của mày.
Ông Viễn đưa hai tay ra nhận. Như người ta nhận một thứ gì đó trên bàn thờ.
Ông mở nắp. Ông nhìn vào mặt trong nắp. Ba chữ cái mòn gần hết. L. T. V. Ông nhìn rất lâu. Gió từ biển thổi vào qua dãy phi lao, rì rào như mưa. Ngoài đường có tiếng trẻ con đốt pháo bông que, xè xè, rồi cười rộ lên.
Rồi ông Viễn gập nắp lại. Ông quay sang Dao, đang ngồi ở cái ghế đẩu nhỏ bên cạnh Trung, ở góc hiên.
Ông chìa cái kính lúp ra.
– Con cầm đi. – Ông nói.
Dao nhìn ông. Rồi cô nhìn ba.
– Đồ của thợ. – Ông Viễn nói. – Đồ của thợ thì để cho thợ.
Ba cô gật. Chậm.
Dao đưa tay ra nhận. Cái kính lúp nằm trong lòng bàn tay cô, nặng đúng như mọi lần, vỏ đồng ấm hơi tay của hai ông già.
Mười giờ, Phong vào buồng, bưng ra một cái thùng các-tông nhỏ cột dây. Chiều hai mươi chín, nhà xe khách tuyến Quảng Trị gọi điện, nói có hàng gửi cho Âu Thanh Dao, người gửi Võ Thị Mận. Phong chạy ra bến lấy về. Dao chỉ mở hé coi bên trong có gì, rồi để nguyên cái thùng trong buồng, chờ tới sáng mùng Một.
Dao mở thùng. Một hũ ruốc. Một bịch mè xửng. Và một cành keo non, dài chừng một gang tay rưỡi, lá còn xanh, gói trong một tờ giấy báo ướt cho khỏi héo. Kèm theo là một mẩu giấy học trò, chữ viết của trẻ con, to, nét cẩn thận:
"Mạ con biểu con viết. Đây là cành keo cây nhà con. Cây cao bằng mạ rồi. Chúc cô Dao ăn Tết vui."
Dao đọc. Rồi cô đưa cho Trung đọc. Trung đọc xong, đưa cho ba cô. Ba cô đưa ra xa, kéo lại gần, đọc rất lâu. Rồi ông đưa cho ông Viễn.
Ông Viễn đọc xong, gấp mẩu giấy lại làm đôi, đặt lên bàn, chặn bằng cái chén nước mắm.
Dao lấy cây dao rọc giấy trong túi áo. Cô đẩy lưỡi ra hai nấc. Cô gọt một nhát thật mỏng, thật phẳng ở đầu cành keo non. Mạt gỗ quăn lại, rơi xuống nền gạch tàu, nhỏ như một sợi tóc.
Cô mở nắp kính lúp. Cô đưa đầu cành keo lên sát mắt, kính lúp kẹp giữa, nghiêng về phía sân cho ánh sáng mùng Một hắt vào.
Mặt cắt nhỏ chỉ bằng đầu đũa. Ở giữa là phần lõi trắng, xốp. Xung quanh là một vòng gỗ mỏng, mới, xanh nhạt. Trong vòng gỗ ấy, mạch gỗ nhỏ li ti, nằm lẻ, cái nào cũng có một vòng sáng màu bao quanh, như những hạt sương. Không có dải nhu mô nào chạy ngang như bậc thang. Không có mốc xanh. Không có lỗ mọt kim.
Chưa có vòng năm nào. Cây mới mười một tháng tuổi.
Cô không nói gì. Cô cứ ngồi đó, cành keo non trong tay, cái kính lúp vỏ đồng áp sát mắt.
Ba cô đứng dậy. Ông chống gậy, đi tới sau lưng cô. Ông đứng đó một lúc. Rồi ông cúi xuống, thật chậm, cái chân mới thay khớp chịu được, đưa mũi lại gần đầu cành keo vừa gọt. Ông hít một hơi dài.
– Chua. – Ông nói.
Ông Viễn ngồi bên kia bàn, cũng ngửi thấy từ xa. Ông gật đầu.
Trong bếp, má cô đã đổ xong mẻ bánh xèo thứ ba. Mùi nghệ, mùi tôm, mùi gỗ keo non mới gọt quyện lại với nhau trong gió biển, bay qua dãy phi lao, ra phía biển xanh thẫm của buổi sáng mùng Một.
— Hết —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe