Chương 15: Rừng keo cao ngang vai
– Ông Xứng. – Chị Mận nói, bước ra giữa sân, mặc kệ mưa. – Tên tui nằm trên giấy bán gỗ là răng?
Ông Xứng đứng ở đầu sân, cây đèn pin trong tay chĩa xuống đất. Vòng sáng vàng nhạt run run trên vũng nước đỏ.
– Ai nói với mi?
– Giấy đây nì. – Chị Mận rút tờ bảng kê gấp tư trong túi áo khoác ra, giơ lên, nước mưa rơi lộp độp lên mặt giấy. – Chín mươi sáu tấn. Tháng Tám. Tên tui. Ông nói tui nghe đi.
Ông Xứng nhìn tờ giấy, không đưa tay ra lấy. Rồi ông nhìn hai đứa nhỏ đang đứng nép sau cánh cửa, mắt tròn xoe.
– Mai nói. – Ông nói. – Đêm hôm, con nít thức dậy hết rồi.
Ông kéo mũ áo mưa lên, quay lưng, đi xuống dốc. Ánh đèn pin lắc lư, nhỏ dần, rồi khuất sau rặng chuối ven suối.
Chị Mận đứng giữa sân thêm một lúc, rồi cúi xuống nhặt cục đá trong luống cải, ném mạnh xuống suối. Tiếng tõm nhỏ, lẫn vào tiếng nước chảy.
– Không phải ông Xứng ném. – Chị nói, đi vào nhà, giũ tóc. – Ông Xứng hèn, chớ không ác. Đứa mô ném thì tui không biết.
Chị lấy một cái chậu nhôm đặt dưới chỗ ngói vỡ. Nước nhỏ tong tong vào chậu. Dao nằm lại trên cái chõng tre, cái chậu nhôm ngay cạnh đầu, nghe tiếng nước rơi, nghĩ tới cái xô nhựa ở phòng trọ của mình. Gần sáng cô mới ngủ được.
Sáng thứ Năm, trời tạnh. Không có nắng, chỉ có một thứ ánh sáng xám bạc phủ lên những ngọn đồi. Chị Mận gửi hai đứa nhỏ đi học nhờ xe nhà hàng xóm, rồi xỏ đôi ủng cao su, đội cái nón lá, đưa cho Dao một cây gậy tre.
– Chống vô mà đi. Trơn lắm.
Con đường lên đồi là một lối mòn đất đỏ, mưa mấy ngày làm nó nhão như cháo. Mỗi bước chân lún xuống tới mắt cá, rút lên nghe chụt một tiếng. Dao trượt hai lần, lần thứ hai ngã ngồi xuống bùn. Chị Mận đứng trên cao nhìn xuống, cười lớn, rồi chìa tay xuống kéo cô lên.
– Người thành phố. – Chị nói, không có ý chê.
Họ leo chừng hai mươi phút. Tới một khoảnh đất dốc thoai thoải, chị Mận dừng lại, chống nạnh, hất cằm.
– Đó. Ba phẩy hai héc ta của tui.
Dao nhìn.
Cả sườn đồi phủ một màu xanh non. Những cây keo con trồng thành hàng thẳng, cách nhau chừng hai mét, thân nhỏ bằng cổ tay, lá xanh mướt còn đọng nước mưa. Cây cao nhất chừng quá đầu người một chút. Phần lớn chỉ cao ngang vai. Giữa các hàng cây, cỏ tranh đã được phát quang, đất đỏ lộ ra, có những vết cuốc mới.
– Trồng tháng Ba. – Chị Mận nói. – Chín tháng. Keo lai lớn nhanh, mà đất ni bạc màu, chừng ni là cao rồi. Bảy năm nữa mới đốn được.
Dao bước vào giữa hai hàng cây. Lá keo non quẹt vào vai cô, ướt lạnh. Cô đứng giữa một khoảnh rừng mà trên giấy tờ, ngày hai mươi tháng Tám năm nay, đã cho ra chín mươi sáu tấn gỗ keo bảy năm tuổi, đường kính gang tay. Cô đưa tay nắm thử một thân cây. Ngón tay cô vòng qua được, chạm vào nhau.
Cô lấy điện thoại ra chụp. Chụp từng hàng cây. Chụp chị Mận đứng cạnh một cây keo, đầu chị cao hơn ngọn cây. Chụp xa, chụp gần. Điện thoại tự ghi ngày giờ, ghi cả toạ độ.
– Còn mấy cây đổ năm ngoái? – Cô hỏi.
– Ở dưới tê.
Chị Mận dẫn cô xuống mép dưới của khoảnh đất, sát một khe nước nhỏ. Ở đó, nằm ngổn ngang dưới lớp cỏ mọc um tùm, là những thân cây keo lớn bị bão quật đổ năm ngoái. Những cây quá xa, quá dốc, kéo ra không nổi, người ta bỏ lại. Có thân đã bị cưa ngang mấy khúc, phần gốc vẫn còn rễ chổng lên trời, bám đầy đất khô.
Dao ngồi xuống cạnh một khúc gỗ. Cô lấy cây dao rọc giấy mang theo trong ba lô, gọt một nhát phẳng ở đầu khúc gỗ. Rồi cô lấy kính lúp ra.
Gỗ keo tươi khi cưa ra có màu vàng nhạt ở phần giác, nâu sậm ở phần lõi. Khúc gỗ này thì khác. Phần giác đã chuyển sang một màu xám xanh loang lổ, như ai lấy mực pha loãng quệt lên. Dưới kính lúp, thấy rõ những sợi nấm li ti màu sẫm chạy dọc theo các tia gỗ. Rải rác trên mặt cắt là những lỗ tròn nhỏ như đầu cây kim, mỗi lỗ có một viền đen. Cô ấn móng tay vào phần giác. Nó lún xuống, mềm, bở, như miếng bánh bông lan để lâu.
– Cái chi rứa? – Chị Mận ngồi xổm bên cạnh, nhìn theo.
– Mốc xanh. – Dao nói. – Gỗ đổ nằm lâu ngoài trời, ẩm, nấm ăn vô phần giác, làm gỗ chuyển màu xám xanh. Còn mấy cái lỗ nhỏ này là mọt kim. Nó đục vô gỗ chết, gỗ đổ. Gỗ đứng trên cây sống thì không có.
Cô đưa kính lúp cho chị Mận. Chị cầm, lúng túng, nheo một mắt nhìn qua tròng kính.
– Trời đất. Lỗ chi mà nhiều rứa.
– Chị nhớ cái này. – Dao nói. – Tháng Tám năm nay, mười bốn lô gỗ mang tên Khe Sến vào nhà máy em. Biên bản kiểm tra mẫu lô nào cũng ghi: màu gỗ vàng nhạt, không mục, không mốc. Nếu đó là gỗ tận thu từ cây đổ hồi bão, nằm ngoài trời mười tháng, thì nó phải như khúc này. Còn nếu đó là gỗ đốn tươi tháng Tám như giấy tờ ghi, thì ở đây phải có cây bảy năm tuổi để đốn. Mà ở đây chỉ có cây chín tháng tuổi.
Chị Mận trả lại cái kính lúp. Chị nhìn khúc gỗ mục một lúc lâu.
– Rứa là gỗ của ai? – Chị hỏi.
– Không phải gỗ của Khe Sến. Chỉ có giấy là của Khe Sến.
Cô chụp ảnh khúc gỗ. Chụp gần mặt cắt. Chụp qua tròng kính lúp, áp ống kính điện thoại sát vào, cho thấy những sợi nấm và lỗ mọt phóng to. Rồi cô gói một mẩu gỗ nhỏ vừa gọt ra vào cái túi ni lông có khoá kéo, ghi ngày, ghi chỗ, cất vào ba lô.
Trên đường xuống, họ ghé nhà chú Trần Văn Lập, tên thứ hai trong bảng kê. Chú bảy mươi tuổi, lưng còng, ở với vợ trong một căn nhà gỗ nhỏ. Chú nghe Dao đọc dòng có tên mình, khai thác tháng Tám, tám mươi tư tấn, rồi lắc đầu chầm chậm.
– Cây của tui đổ hết, con. Tui già rồi, cưa không nổi, để nó nằm đó. Ra Giêng thằng cháu về trồng lại giùm. – Chú nói, giọng thều thào. – Tháng Ba ông Xứng có đưa tui một triệu rưỡi, biểu ký giấy nhận tiền hỗ trợ. Tui ký. Tui có biết chữ mô mà đọc.
Ba giờ chiều, ông Xứng tới nhà chị Mận.
Ông đi một mình. Không đèn pin, không áo mưa, chỉ mặc cái áo len nâu xổ sợi. Ông ngồi xuống cái ghế gỗ ở gian ngoài, đối diện với Dao, chị Mận ngồi trên bậc cửa, khoanh tay. Không ai mời nước.
Ông im một lúc lâu, nhìn ra con suối.
– Bão năm ngoái, tổ hợp tác mất hơn nửa diện tích. – Cuối cùng ông nói, giọng khàn. – Bà con nợ ngân hàng tiền cây giống, tiền phân. Chứng chỉ rừng thì người ta sắp về đánh giá lại, diện tích mất rứa thì có khi bị rút. Mất chứng chỉ là mất giá. Bảy năm nữa có gỗ cũng bán như gỗ thường. Tui làm tổ trưởng mười hai năm, tui thấy bà con khóc, tui không biết làm răng.
– Rồi ai tới? – Dao hỏi.
– Tháng Chạp năm ngoái, có người bên thu mua công ty cô ra. Người to, nói giọng Bắc. – Ông Xứng nói. – Ổng nói: tổ hợp tác cứ xuất hoá đơn, làm bảng kê theo tên các hộ như bình thường, mỗi tháng một ít. Gỗ thì công ty tự lo. Công ty trả cho tổ hợp tác một khoản phí theo mỗi tấn. Đủ tiền mua cây giống trồng lại cho cả sáu mươi tư hộ, đủ trả lãi ngân hàng. Ổng nói chuyện ni bên công ty làm hoài, không ai biết, không ai thiệt.
– Rồi chú nhận.
– Tui nghĩ giấy là giấy. Cây giống là thật. – Ông nói. – Cô lên đồi coi rồi đó. Cây giống thật. Cả xã ni trồng lại được là nhờ tiền đó.
– Mỗi nhà được một triệu rưỡi. – Chị Mận nói từ bậc cửa, giọng lạnh. – Sáu mươi tư nhà. Chưa tới trăm triệu. Mà mười bốn xe gỗ, ông nói tui nghe phí mỗi tấn bao nhiêu?
Ông Xứng không trả lời. Ông nhìn xuống hai bàn tay mình đặt trên đầu gối.
– Chú có giấy tờ gì với người đó không? – Dao hỏi. – Hợp đồng, biên nhận, tin nhắn?
– Không có chi hết. Tiền mặt. – Ông nói. – Mà cô nghe tui nói nì. Tui nói với cô ở đây, trong cái nhà ni. Ra ngoài kia, trước mặt công an, tui không nói. Tui còn sáu mươi tư hộ. Tui mà khai ra, chứng chỉ mất, tổ hợp tác tan, bà con lại nợ như cũ.
Ông đứng dậy.
– Cô về đi. – Ông nói lần nữa, nhưng lần này không còn sức. – Tui xin cô.
Tối thứ Năm, điện thoại Dao có một cuộc gọi từ số máy bàn ở thành phố. Một giọng phụ nữ, nghiêm, rõ ràng, tự giới thiệu là cán bộ điều tra của công an thành phố, tên Hà Thị Diễm. Chị nói cơ quan đã tiếp nhận đơn tố giác của Tập đoàn Thịnh Viễn liên quan tới cô, và cả tin trình báo của cô ở công an phường. Chị mời cô tới làm việc lúc tám giờ sáng thứ Tư, ngày chín tháng Mười Hai. Giấy mời sẽ gửi qua đường bưu điện về địa chỉ thường trú, cô có thể mang theo luật sư.
– Dạ. Em sẽ tới.
– Chị đang ở đâu?
– Em đang ở Quảng Trị. Em đi xác minh nguồn gỗ.
Đầu dây bên kia im một nhịp.
– Chị cẩn thận. – Giọng cán bộ Diễm vẫn nghiêm, nhưng chậm hơn. – Có gì cần trình báo thì báo ngay cho công an địa phương.
Thứ Sáu, chị Mận dẫn cô đi thêm bốn nhà nữa trong xóm dưới. Nhà nào cũng có tên trong bảng kê tháng Tám. Nhà nào cũng có một khoảnh keo non chín tháng tuổi. Nhà nào cũng đã ký một tờ giấy nhận một triệu rưỡi hồi tháng Ba. Cô chụp ảnh, ghi tên, ghi số điện thoại. Tối đó không có cục đá nào rơi lên mái.
Sáng thứ Bảy, anh xe ôm hôm trước lên đón cô ở đầu dốc. Chị Mận đứng ở cổng, hai đứa nhỏ níu hai bên vạt áo. Chị dúi vào tay cô một bịch mè xửng và một cái lọ thủy tinh đựng ruốc.
– Chừng mô cô cần người nói, cô gọi tui. – Chị nói. – Tui vô tận trong đó nói. Tui không sợ.
Xe ôm chạy ra tới ngã ba thì cô thấy ông Xứng đứng dưới mái hiên quán tạp hoá, cái áo len nâu, hai tay đút túi quần. Ông vẫy cô lại. Anh xe ôm dừng xe.
Ông Xứng không nhìn cô. Ông nhìn ra con đường lớn, nơi một chiếc xe tải chở keo đang chạy qua, nước bùn bắn lên tung tóe.
– Hôm qua có người trong công ty cô gọi cho tui. – Ông nói nhỏ. – Hỏi cô có ở đây không. Cô đã gặp những ai. Cô đã lên đồi chưa.
Dao ngồi im trên yên xe ôm.
– Ai gọi chú?
– Không nói tên. – Ông Xứng nói. – Chỉ nói là sếp của cô. Nói cô là người của họ. Biểu tui cứ yên tâm.
— Hết chương 15 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe