Chương 17: Cái ghế đẩu còn lại
Cái ghế đẩu tới phòng trọ của Dao lúc mười một giờ đêm thứ Ba, nằm trên gác-ba-ga chiếc xe số cũ. Nó quấn ba lớp bao bố, cột bằng dây chun đen như người ta chở một con heo đi chợ.
Trung dắt xe vào tận hiên, tắt máy, nhìn quanh dãy trọ tối om. Chỉ có phòng cô còn sáng đèn. Anh tháo dây chun, ôm cái ghế lên bằng hai tay, bước vào phòng, đặt nó xuống giữa sàn. Nó nặng hơn cô tưởng. Mặt sàn gạch kêu cộp một tiếng.
– Anh mang ra cổng sao được?
– Anh đi cổng sau. – Anh nói, lau mồ hôi trán bằng cánh tay. – Ca đêm, thằng Tín trực ngoài đó. Anh nói chở bao mạt cưa về cho mạ con bạn ủ phân. Hắn nhìn anh, rồi quay mặt chỗ khác. Hắn biết. Hắn không nói.
– Rồi mai anh làm sao?
– Mai tính. – Anh ngồi bệt xuống sàn, dựa lưng vào vách. – Anh sấy gỗ mười năm, anh nỏ biết luật chi. Anh chỉ biết hôm qua người ta xúc hết mọi thứ lên xe chở đi, mà không đốt. Đầu mẩu gỗ thì xưa ni có ai thèm chở đi mô, toàn cho vô lò. Chở đi là vì không muốn ai thấy. Rứa thì cái ni phải có người thấy.
Dao quỳ xuống cạnh cái ghế. Cô gỡ từng lớp bao bố ra.
Một khúc gỗ tròn cao tới đầu gối, đường kính hơn gang tay. Mặt trên cưa phẳng, đã lên nước bóng vì bao nhiêu người ngồi. Lớp vỏ xám tro bọc quanh thân, chỗ bong chỗ còn. Và trên lớp vỏ, chạy vòng quanh thân cây, là những vạch xéo song song, sâu chừng một ly, cách đều nhau như những bậc thang nghiêng. Cô đếm được mười bảy vạch trên một đoạn chưa tới hai gang tay. Mỗi vạch là dấu vết của những buổi sáng sớm, suốt nhiều năm, một người công nhân cao su nào đó ở miền Đông đã đặt lưỡi dao lên thân cây này.
Cô lấy dao rọc giấy, gọt một nhát mỏng ở mép mặt trên. Rồi cô lấy kính lúp.
Mạch gỗ to, rải rác, đứng một mình hoặc chụm hai chụm ba. Giữa các tia gỗ là những dải nhu mô mảnh chạy ngang, đều đặn. Bậc thang tí hon. Y như lát gỗ trên bàn họp tầng mười tám, ngày hai tháng Mười Một.
– Cao su. – Cô nói.
– Anh biết. – Trung nói. – Anh nỏ cần kính lúp.
Cô ngước lên nhìn anh. Anh nhún vai.
– Mười năm sấy gỗ. Cao su vô lò sấy là có mùi khác. Ngòn ngọt, hơi khét. Tháng Tám anh có ngửi thấy. Anh còn chửi thằng phụ lò, nói đứa mô đổ gỗ cao su của bãi B vô lò chứng chỉ. Hắn nói gỗ bãi A đó anh. Anh tưởng hắn nói bậy.
Cô không nói gì. Cô lật cái ghế nằm nghiêng ra, nhìn xuống mặt đáy.
Mặt đáy không cưa lại. Đó là mặt đầu nguyên thủy của khúc gỗ, chỗ người ta cắt khúc gỗ tròn dài ra cho vừa chiều dài lưỡi cưa ở bãi A. Đầu mẩu thừa rơi xuống đất, rồi được xúc ra đống cạnh lò hơi. Mặt gỗ thô, xơ, bám đầy đất và mạt cưa đã đen. Cô lấy khăn ướt lau.
Một vệt sơn đỏ hiện ra. Đã phai, đã tróc mất một nửa. Nhưng còn đủ. Một nét sổ thẳng. Một nét chéo. Và cuối nét sổ thứ hai, kéo dài ra, nhọn lên như một mũi tên.
Chữ N có mũi tên.
Cô với lấy điện thoại, mở tấm ảnh Trung chụp ở bãi Trảng Bom, phóng to đầu một khúc gỗ cao su gần cổng nhất. Cô đặt điện thoại xuống cạnh mặt đáy cái ghế.
Cùng màu sơn. Cùng nét chữ. Cùng cái mũi tên.
Trung cúi sát xuống nhìn, rồi ngồi thẳng lên, thở ra một hơi dài.
– Rứa là xong rồi hả? – Anh hỏi.
– Chưa xong. – Dao nói. – Người ta sẽ hỏi: làm sao biết cái ghế này đóng từ tháng Tám? Có khi anh đóng tuần trước, lấy khúc gỗ ở đâu đó về, nói là của tháng Tám.
Trung gãi đầu. Rồi anh móc điện thoại ra.
– Ảnh. – Anh nói. – Hôm sinh nhật, tụi hắn chụp ảnh gửi nhóm chat của ca. Để anh tìm.
Anh kéo màn hình rất lâu. Nhóm chat của ca lò sấy có mười hai người, ngày nào cũng có cả trăm tin nhắn. Ảnh con Mạt Cưa. Ảnh nhiệt kế lò sấy. Ảnh cơm hộp. Ảnh ai đó ngủ gục trên đống ván. Anh kéo ngược về tháng Mười, tháng Chín. Rồi tháng Tám.
– Đây.
Ngày hai mươi ba tháng Tám, mười sáu giờ mười hai phút. Một tấm ảnh do một người tên Hoà Phụ Lò gửi, kèm dòng chữ: "Chúc mừng sinh nhật anh Trung già thêm một tuổi."
Trong ảnh, sáu người đàn ông mặc đồ bảo hộ màu cam ngồi quanh cái bàn gỗ ghép trong chái nghỉ. Giữa bàn là một cái bánh kem nhỏ cắm hai cây nến số ba và số hai. Mỗi người ngồi trên một cái ghế đẩu mới tinh, mặt trên cưa còn trắng, chưa lên nước. Lớp vỏ xám tro với những vạch xéo song song hiện rõ dưới ánh đèn neon. Con Mạt Cưa ngồi trên cái ghế gần lò nhất, chính là cái ghế đang nằm nghiêng trên sàn phòng trọ của cô. Cô nhận ra nó vì cái mắt gỗ lớn hình hạt đậu ở lưng chừng thân.
Và ở góc ảnh, phía sau lưng mấy người đàn ông, qua khoảng trống của cái chái, thấy được một phần đống đầu mẩu cạnh lò hơi. Những khúc gỗ tròn chất lổn nhổn. Trên mặt cắt của mấy khúc, lấm tấm những vệt đỏ.
Người ngồi giữa ảnh là Trung. Áo bảo hộ cam, cười toe toét, trên chóp mũi dính một cục kem trắng to bằng đầu ngón tay cái.
Dao nhìn cục kem trên mũi anh. Rồi cô bật cười.
Không phải cười khẽ. Cô cười thành tiếng, cười tới mức phải ôm bụng, cười tới chảy nước mắt. Bao nhiêu ngày rồi cô không cười như vậy. Từ cái sáng thứ Hai lát gỗ trượt trên mặt bàn kính.
Trung giật điện thoại lại, mặt đỏ tới mang tai.
– Thằng Hoà nó trét đó. – Anh nói. – Anh nỏ biết nó chụp.
– Để em coi lại.
– Không.
– Anh Trung. Đó là bằng chứng.
– Bằng chứng thì coi cái ghế. – Anh nói, rồi chính anh cũng không nhịn được, phì cười. – Mạ anh mà thấy cái ảnh ni là mạ biểu anh lấy vợ liền cho có người lau mũi.
Hai người ngồi trên sàn phòng trọ, giữa họ là cái ghế đẩu bằng gỗ cao su có vết cạo mủ, và cười như hai đứa con nít. Ngoài vườn chuối, ếch nhái đã ngủ. Gần một giờ sáng Trung mới về. Trước khi đi, anh gửi cho cô tấm ảnh ngày hai mươi ba tháng Tám, nguyên bản, kèm theo cả đường dẫn tới tin nhắn gốc trong nhóm.
– Anh có làm chứng không? – Cô hỏi ở cửa. – Nếu công an hỏi.
Trung đội mũ bảo hiểm vào, cài quai.
– Hỏi thì anh nói. – Anh nói. – Anh chỉ biết sấy gỗ. Anh nói chuyện sấy gỗ.
Tám giờ sáng thứ Tư, Dao ngồi trong một căn phòng làm việc nhỏ ở trụ sở công an thành phố, đối diện cán bộ điều tra Hà Thị Diễm. Luật sư Tú ngồi bên cạnh. Cái ghế đẩu nằm dưới chân bàn, vẫn quấn trong bao bố.
Chị Diễm chừng bốn mươi tuổi, tóc búi gọn, quân phục phẳng phiu, nói chậm, rõ, không thừa chữ nào. Chị nghe Dao trình bày từ đầu tới cuối, gần hai tiếng. Chị không ngắt lời. Chỉ thỉnh thoảng ghi chép, thỉnh thoảng hỏi lại một ngày, một giờ, một cái tên.
Dao đặt lên bàn từng thứ một. Năm tờ phiếu cân photo dán trên tờ giấy khổ lớn. Bản phân tích thời gian chạy xe, kèm tên và số điện thoại của chú Tư Đạt, người có thể giải thích rõ hơn cô. Ảnh đồi keo non ở Khe Sến, có ngày giờ và toạ độ. Danh sách sáu hộ có tên trong bảng kê tháng Tám mà cô đã gặp, kèm số điện thoại. Cái hộp nhựa lót bông có mẩu gỗ keo mốc xanh. Ảnh bãi gỗ Trảng Bom với chữ N đỏ. Ảnh nhóm chat ngày hai mươi ba tháng Tám. Và cuối cùng, cô cúi xuống, gỡ bao bố, nhấc cái ghế đẩu lên đặt cạnh bàn, lật nghiêng cho thấy mặt đáy có vệt sơn đỏ.
Chị Diễm nhìn cái ghế một lúc lâu. Rồi chị đứng dậy, đi vòng qua bàn, ngồi xổm xuống cạnh nó, đưa ngón tay lần theo những vạch xéo trên vỏ.
– Cái này là vết cạo mủ cao su? – Chị hỏi.
– Dạ.
Chị gật, đứng lên, quay về ghế.
– Chúng tôi sẽ lập biên bản tiếp nhận đồ vật, tài liệu chị cung cấp. – Chị nói. – Tôi nói để chị biết: cơ quan điều tra xác minh cả hai chiều. Đơn tố giác của công ty đối với chị, và những gì chị cung cấp hôm nay. Không có chiều nào được ưu tiên.
– Dạ.
– Trong đơn tố giác của công ty còn một nội dung. – Chị Diễm lật một trang hồ sơ. – Công ty cho rằng chị đã cung cấp thông tin nội bộ cho trang tin đăng bài ngày tám tháng Mười Một.
Dao sững người.
– Em không cung cấp gì hết. Em là người bị đăng.
– Tôi ghi nhận. – Chị Diễm nói. – Chị không cần chứng minh điều chị không làm. Việc đó chúng tôi sẽ làm việc với trang tin.
Ra khỏi trụ sở công an lúc mười một giờ rưỡi, luật sư Tú đứng ở bậc thềm, bỏ một hột ô mai vào miệng, nhìn Dao một lúc.
– Con biết cái gì làm cô tin con nhất không? – Bà hỏi.
– Dạ không.
– Cái ghế. – Bà nói. – Người bịa chuyện thì mang giấy. Người nói thật mới vác cả một khúc gỗ lên công an.
Thứ Năm, Dao ngồi viết thư cho Tống Viết Hiển. Cô không có số điện thoại của anh ta. Cô tìm trên trang thông tin công khai của tổ chức đánh giá độc lập nơi anh ta làm, lấy địa chỉ thư điện tử chung. Cô viết ngắn, như anh ta nói chuyện: tên, vị trí cũ, đã bị sa thải. Năm điểm, mỗi điểm một dòng, kèm ảnh. Lô duyệt trước khi xe lên cân. Chiếc xe hai ngày một chuyến. Đồi keo chín tháng tuổi. Gỗ đổ mốc xanh. Ghế đẩu cao su có chữ N đỏ của bãi Trảng Bom, ảnh có ngày hai mươi ba tháng Tám. Cô viết thêm một câu cuối: "Hạn của Haldor là ngày 17/12. Tôi nghĩ anh nên thấy những thứ này trước hạn."
Chiều thứ Sáu, Hiển trả lời. Ba dòng.
"Tôi đã nhận. Tôi có thể gặp chị lúc 10 giờ sáng thứ Hai, 14/12, tại văn phòng tôi. Mang theo hiện vật nếu có."
Tối thứ Bảy, anh Trác gọi. Anh hỏi cô đi công an về ra sao. Cô kể. Anh nghe, rồi im một lúc rất lâu, lâu tới mức cô tưởng mất sóng.
– Anh ơi?
– Anh đây. – Giọng anh khàn. – Em giỏi quá, Dao.
Cô kể thêm chuyện Hiển hẹn gặp sáng thứ Hai.
– Anh đi với em. – Anh Trác nói ngay. – Anh là trưởng phòng, có anh ngồi đó thì lời em nặng hơn. Anh cũng muốn tự nói với anh Hiển là phòng mình có lỗ hổng trong quản trị tài khoản. Lỗi đó là của anh, không phải của em.
Cô nghĩ một chút. Rồi cô nói dạ.
Mười giờ bốn mươi tối, điện thoại cô rung. Đúng cái số máy lạ ba tuần trước, cái số đã nhắn cho cô về chiếc xe 74H-218.36. Cô để ý giờ. Mười giờ bốn mươi. Lần trước cũng mười giờ bốn mươi.
"Đừng nói lịch gặp Hiển cho ai trong phòng của cô."
Cô nhìn dòng chữ rất lâu.
Trong phòng của cô. Phòng nguồn gốc gỗ chỉ còn ba người: Xuân, người mới bên thu mua sang, và anh Trác. Xuân không biết gì về Hiển. Người mới thì cô chưa từng gặp.
Cô gõ: "Ai vậy? Sao biết tôi hẹn gặp Hiển?" Cô bấm gửi. Tin nhắn nằm đó, không ai trả lời.
Cô đặt điện thoại xuống, nhìn cái ghế đẩu đã được công an tiếp nhận, giờ chỉ còn là một tấm ảnh trên màn hình. Cô nghĩ tới anh Trác, người duy nhất ở tầng mười hai không giơ tay. Cô nghĩ tới bình trà atisô anh rót cho cô ở sảnh thang máy hôm đầu tiên.
Cô không gọi lại cho anh để huỷ hẹn. Nhưng tối đó, lần đầu tiên, cô nằm mãi không ngủ được, và cô không biết vì sao.
— Hết chương 17 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe