Chương 35: Áo mưa một người mặc hai
Con cá chép trong cái thau nhôm vẫy đuôi một cái, nước văng lên mặt Dao.
– Cá ông Táo đó con. – Cô Ba Thảnh nói, cười móm mém. – Cúng xong con đem ra con kênh đầu đường thả giùm cô. Cô già rồi, đi không tới.
Sáng thứ Bảy, hai mươi ba tháng Chạp. Trước hiên căn nhà mái bằng đầu dãy trọ, cô Ba Thảnh bày một mâm cúng nhỏ trên cái bàn gỗ thấp. Ba bộ mũ áo giấy, một dĩa xôi, một dĩa trái cây, một bình bông vạn thọ, và cái thau nhôm có ba con cá chép đỏ đang bơi vòng vòng. Bà thắp nhang, khấn lâm râm bằng giọng Long An. Dao đứng sau lưng bà, chắp tay, không biết khấn gì. Cô chỉ nhìn ba con cá chép đỏ trong thau. Cô nghĩ tới một cổ tay trái.
Cúng xong, cô bưng cái thau ra con kênh nhỏ đầu đường lớn. Nước kênh đục, chảy chậm, hai bên bờ mọc cỏ lác. Cô nghiêng thau. Ba con cá đỏ trượt xuống nước, đứng yên một nhịp như còn ngơ ngác, rồi quẫy đuôi, lặn mất.
Mười giờ, Trâm tới. Không phải bằng xe máy. Trâm đi xe buýt, tay xách một cái bảng gỗ nhỏ bọc giấy báo.
– Bà mở ra coi.
Dao mở. Một tấm bảng gỗ keo, sơn trắng, chữ đen, viết tay bằng cọ, nét còn run: Tính lương – Bảo hiểm – Hợp đồng lao động. Nhận cho xưởng nhỏ, quán nhỏ.
– Phòng kế bên văn phòng cô Tú. – Trâm nói, mặt hớn hở. – Trên lầu tiệm sửa đồng hồ. Ông cụ cho thuê rẻ, nói con nhỏ này nói nhiều quá, có người nói chuyện cho vui. Cô Tú nói khách của cô hỏi về lương bổng thì cô gửi qua tui. Tui đã có ba khách rồi. Hai cái xưởng mộc bên Trảng Bom, một quán bún mắm.
– Quán bún mắm đầu hẻm nhà bà?
– Ổng có mười hai nhân viên mà chưa ai có hợp đồng. – Trâm nói. – Tui nói anh không làm hợp đồng là sai luật, mai mốt có chuyện là anh chịu. Ổng sợ, ổng thuê tui. Tui lấy tiền công bằng bún mắm.
Dao bật cười. Rồi cô lấy điện thoại ra, bấm mấy cái.
– Tui chuyển cho bà năm chục rồi. Bà kiểm tra coi.
Trâm nhìn điện thoại. Rồi nhìn cô.
– Lương truy lĩnh về rồi hả?
– Hôm qua. – Dao nói. – Lương những ngày bị sa thải, cộng khoản bồi thường công ty phải trả theo luật khi sa thải trái luật. Tui trả dì Út sáu chục hồi sáng rồi. Còn anh Trung.
– Sao không trả anh Trung luôn?
– Trả cái đó phải gặp mặt. – Dao nói. – Tui có ghi giấy.
Trâm nhìn cô một lúc lâu, rồi cười, cái cười như biết hết mà không nói.
Mấy ngày cuối tháng Chạp trôi qua như người ta lật từng trang lịch bloc. Chị Mận nhắn từ Khe Sến, nhờ con bé lớn gõ giùm: ông Xứng lên công an tỉnh rồi, ổng khai hết, ổng xin trả lại phần tiền cây giống còn giữ cho bà con. Phong gọi từ Quy Nhơn, nói ba ở nhà khỏe, ba ăn được hai chén cơm, má mừng quá đổ dư một chục bánh xèo. Phong nói công an phường gọi nó, thông báo quyết định xử phạt hành chính về việc mua bán tài khoản ngân hàng. Nó nộp phạt. Thượng úy Kiên dặn nó một câu: lần sau ai rủ bán cái gì đứng tên mình, nhớ cái xe máy cháy. Phong nói nó sẽ ở lại Quy Nhơn ăn Tết, ra Giêng mới vô. Nó nói một ông chủ tiệm sửa xe gần nhà trọ chịu nhận nó làm thợ học việc, sau Tết đi làm.
– Lần này có tiệm sửa xe thiệt hả mày? – Dao hỏi.
– Thiệt chị Hai. – Phong cười. – Ông chủ tên Lực. Em thề. Em không bịa.
Cô cười tới chảy nước mắt.
Chiều thứ Hai, chị Rạng với Xuân tới phòng trọ, mang theo một đòn bánh tét của công đoàn Nhà máy số 3, năm nay mỗi công nhân được một đòn. Chị Rạng nói chị xin thêm một đòn cho em, ban chấp hành ai cũng gật. Xuân đứng sau lưng chị Rạng, hai tay khoanh trước bụng, mắt đỏ hoe, nói chị Dao ơi em nghe nói em làm phó phòng, em sợ quá, em không biết làm.
– Em biết. – Dao nói. – Em là người duy nhất thấy tài khoản chị duyệt hồi tháng Tám mà chịu kể ra. Phó phòng là vậy đó.
Chị Rạng kể ở chái lò sấy giờ có bốn cái ghế đẩu bằng keo, thằng Trung với thằng Hoà cưa. Công nhân ca nào đi ngang cũng ghé vô ngồi thử. Người ta gọi nó là ghế của ông chủ tịch, vì bữa trước ông già với một ông già khác ngồi trên đó uống chè tới tối mịt.
Chú Tư Đạt gửi từ Long An lên một bao mít ướt, hai trái to bằng cái thùng sơn. Chú nhắn: mít nhà trồng, con chia cho thằng Trung lò sấy, chia cho bà Bảy. Chú nói chú đã ra trồng hai chục gốc mít mới, đầu gối có đau mà vui.
Anh Trác nhắn cho cô một lần. Một tấm ảnh, không kèm chữ nào. Chị Ánh ngồi trên cái ghế nhựa xanh ở khoa thận nhân tạo, mặt đã bớt vàng, tay cầm một cái bình giữ nhiệt màu xanh rêu, giơ lên cho người chụp thấy. Cô nhìn tấm ảnh một lúc lâu. Rồi cô gửi lại một dòng: "Chúc chị Ánh ăn Tết vui." Cô không viết gì cho anh.
Thứ Ba, hai mươi sáu tháng Chạp. Trung nghỉ ca.
– Em muốn đi Trảng Bom. – Cô nói với anh từ tối hôm trước. – Đem trả cái áo khoác cho bà cụ bán nước mía.
Anh không hỏi gì. Bảy giờ sáng, anh đứng ở đầu dãy trọ, chiếc xe số cũ nổ máy rù rì. Trên gác-ba-ga có một cái túi ni lông cột chặt. Trong đó, như mọi lần, là cái áo mưa cánh dơi màu xanh lá, loại một người mặc.
– Tháng Chạp mà anh mang áo mưa làm gì? – Cô hỏi.
– Thói quen. – Anh nói.
Trảng Bom cuối tháng Chạp nắng hanh, gió chướng thổi khô rát. Vườn cao su hai bên quốc lộ đã ra lá non, xanh nhạt, mỏng như giấy pơ-luya. Họ ghé cây xăng Hai Bé, rẽ vào con đường đất đỏ. Hàng rào tôn xanh vẫn còn đó, cánh cổng sắt khoá chặt, dán giấy niêm phong đã bạc màu. Bên trong vắng tanh. Không đống gỗ nào. Không chữ N đỏ nào.
Cái quán nước mía dưới cây xoài vẫn mở. Bà cụ ngồi sau quầy, cái nón lá rách vành, đang tước vỏ mía bằng cây dao phay. Thấy cô, bà nheo mắt.
– Con nhỏ mua gỗ làm chuồng gà.
Cô đưa bà cái áo khoác mùi long não, đã giặt sạch, gấp vuông vức, kèm một hộp mứt Tết. Bà cụ cầm cái áo, đưa lên mũi ngửi, rồi đặt nó lên đùi, vuốt vuốt.
– Hết mùi ông nhà tui rồi. – Bà nói. – Mùi xà bông.
– Con xin lỗi bà.
– Xin lỗi gì. – Bà cụ cười. – Cái áo còn là được.
Bà ép cho hai người hai ly nước mía, không lấy tiền. Bà kể từ bữa đó cái bãi đóng cửa, ban đêm yên, bà ngủ được. Bà kể bà đã lên công an kể chuyện thằng cháu bà Nguyệt ném đá. Thằng bụng phệ coi bãi cũng bị mời lên làm việc mấy bận, giờ không thấy ló mặt ra quán nữa. Bà nói tui già rồi, sợ thì sợ, mà thấy con mẹ góa ngoài Trung bị người ta ném đá vô nhà thì không im được.
Trên đường về, ra tới quốc lộ, Trung không chạy thẳng. Anh rẽ vào một con đường nhỏ dọc theo chân cầu vượt, rồi dừng xe dưới gầm cầu. Đúng chỗ hôm hai mươi tám tháng Mười Một hai người đứng trú mưa. Hôm nay không có mưa. Chỉ có bóng râm, gió lùa, tiếng xe tải chạy rầm rầm trên đầu. Một bà bán vé số ngồi trên tấm bạt ở góc, ngủ trưa.
Anh tắt máy. Anh không xuống xe. Anh ngồi trên yên, hai tay đặt trên tay lái.
– Em có cái ni cho anh. – Dao nói.
Cô rút trong túi áo ra một cái phong bì. Trong đó là hai mươi triệu, và một tờ giấy học trò gấp đôi. Tờ giấy cô viết tối mười chín tháng Mười Một: Âu Thanh Dao mượn Hồ Sĩ Trung hai mươi triệu đồng. Hẹn trả khi có lương. Ký tên.
Trung cầm cái phong bì. Anh lấy tờ giấy ra, đọc. Rồi anh đưa lại cho cô.
– Em xé đi.
Cô xé. Làm đôi, làm tư. Gió dưới gầm cầu cuốn mấy mảnh giấy bay đi, lăn lóc trên nền đất đỏ.
Anh bỏ cái phong bì tiền vào túi áo. Anh không đếm. Rồi anh nhìn ra phía con đường, nơi bóng nắng và bóng cầu cắt nhau thành một đường thẳng.
– Dao. – Anh nói.
– Dạ.
– Hôm đứng chỗ ni trú mưa. – Anh nói, giọng chậm, mỗi chữ như phải nhấc lên một khúc gỗ. – Anh khoác cho em cái áo mưa. Rồi em kéo vạt sau trùm lên lưng anh. Một cái áo một người mặc, hai đứa chia nhau. Anh chạy về chậm hơn lúc đi. Em có biết vì răng không?
Cô không trả lời.
– Vì anh muốn đường về dài thêm. – Anh nói. – Anh nỏ biết nói chi hay hơn. Anh là thằng đứng lò. Anh chỉ biết sấy gỗ. Mà từ hôm đó tới chừ, ngày mô anh cũng muốn đường về dài thêm.
Dao nhìn anh. Cái áo sơ mi cài kín cổ. Hai bàn tay thô, mu tay có những vết bỏng nhỏ, mảng da non đỏ hồng ở tay trái. Cái mũi từng dính một cục kem trắng trong tấm ảnh mười sáu giờ mười hai phút ngày hai mươi ba tháng Tám.
Cô đưa tay ra. Cô đặt bàn tay mình lên bàn tay anh đang nắm tay lái. Anh xoay bàn tay lại, nắm lấy tay cô. Bàn tay anh ấm. Chỗ vết bỏng cũ hơi gồ lên dưới ngón cái của cô, như một vết sẹo dài chạy xéo dưới lớp bao bố.
– Đường về Suối Nhum. – Cô nói. – Anh chạy chậm thêm chút nữa cũng được.
Anh cười. Cái cười ngượng, như hôm kể chuyện sinh nhật ở chái lò sấy.
Điện thoại trong túi áo cô reo. Cô định không bắt. Nó reo tiếp. Cô rút ra coi. Cái số điện thoại cục gạch của ba.
– Ba.
– Ừ. – Giọng ba cô, lẫn tiếng sóng. – Bây Tết về không?
– Dạ về. Hai mươi tám con về.
– Ừ. – Ba cô im một lúc. Cô nghe tiếng dao nhíp gọt gỗ, sột soạt. Ông đã cầm lại con dao nhíp. – Năm nay tháng Chạp thiếu. Hai mươi chín là tất niên. Bây về sớm phụ má bây gói bánh.
– Dạ.
– Còn một chuyện. – Ba cô nói. Ông ngừng lại, rất lâu, lâu tới mức cô tưởng mất sóng. Rồi ông nói, giọng không đổi, như đọc một con số đo. – Tết dắt thằng Nghệ đó về.
— Hết chương 35 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe