Chương 13: Bãi gỗ ở Trảng Bom
Năm giờ rưỡi sáng thứ Bảy, Trung đã đứng ở đầu dãy trọ, chiếc xe số cũ nổ máy rù rì, đèn pha vàng vọt rọi lên hàng rào dâm bụt.
– Ăn sáng chưa? – Anh hỏi.
– Chưa.
– Rứa ra quốc lộ ăn. Bánh mì chảo ở ngã ba ngon lắm.
Cô ngồi lên yên sau. Trên gác-ba-ga có một cái túi ni lông cột chặt, trong đó là cái áo mưa cánh dơi màu xanh lá, loại một người mặc. Anh chỉ có một cái.
Hôm qua, sau khi rời tầng mười hai, Dao đã ngồi ở bậc thềm trụ sở rất lâu. Không khóc. Chỉ ngồi. Rồi cô nhớ tới mười ngày ngồi quét hồ sơ trên căn gác lửng kho thành phẩm. Năm hai nghìn mười chín, năm hai nghìn hai mươi. Trong đó có mấy phiếu xuất kho của công ty Tạ Nguyệt, hồi họ mới bắt đầu giao gỗ keo thường cho bãi B. Phiếu cũ, viết tay bằng mực tím, chữ nghiêng, có ghi địa chỉ kho bãi. Cô nhớ được vì cái tên cây xăng nghe như tên một đứa con nít: "Bãi gỗ Tạ Nguyệt – đường vào hồ, cạnh cây xăng Hai Bé, Trảng Bom." Sáu năm rồi. Không biết bãi còn ở đó không.
Hai người ăn bánh mì chảo ở một quán vỉa hè đầu quốc lộ, trứng ốp la, pa tê, xúc xích, một ổ bánh mì nóng giòn bẻ ra chấm. Ba mươi lăm nghìn một phần. Trung ăn hết phần mình rồi ăn luôn nửa ổ bánh mì cô bỏ dở. Cô nhìn anh ăn, tự nhiên thấy buồn cười.
– Anh ăn nhiều dữ.
– Đứng lò quen rồi, lúc mô cũng đói. – Anh nói, miệng còn nhai. – Mạ anh nói anh ăn như thằng tá điền.
Họ chạy về phía đông. Qua cầu, con sông rộng, nước đục màu phù sa, mấy chiếc ghe cát nằm im dưới chân cầu. Rồi đường lớn, xe tải, xe container, bụi đỏ. Rồi những khu công nghiệp mọc san sát hai bên đường, cổng nào cũng sơn màu sáng, biển hiệu cao. Rồi thưa dần. Vườn cao su. Vườn điều. Những ngôi nhà mái tôn lùi sâu vào trong, trước sân phơi cà phê, phơi tiêu.
Tám giờ, họ tìm ra cây xăng Hai Bé. Nó vẫn ở đó, cũ kỹ, hai cây bơm, mái che bạc màu. Bên cạnh là một con đường đất đỏ chạy vào trong, hai bên là vườn cao su già, thân cây xám bạc, hàng nào cũng thẳng tắp như kẻ chỉ. Đất đỏ dính vào bánh xe, dính lên cả ống quần.
Chạy chừng năm trăm mét, họ thấy hàng rào tôn.
Một bức tường tôn cao hơn đầu người, sơn xanh đã bong tróc, chạy dài gần trăm mét dọc đường đất. Ở giữa là một cánh cổng sắt lớn đang mở hé. Qua khe cổng, thấy được những đống gỗ tròn xếp chồng lên nhau, cao như những cái nhà.
Trung không dừng xe trước cổng. Anh chạy chậm qua, như người đi ngang, rồi tấp vào một cái quán nước nhỏ cách đó chừng năm chục mét, nằm dưới bóng một cây xoài, bên kia đường. Quán có hai cái bàn gỗ, mấy cái ghế nhựa, một cái máy ép nước mía quay tay. Một bà cụ ngồi sau quầy, đang tước vỏ mía bằng cây dao phay.
– Hai ly nước mía bà ơi. – Trung nói. – Ít đá.
Từ chỗ quán, nhìn chéo qua đường, thấy rõ khe cổng sắt và một góc bãi gỗ bên trong.
Dao không cần kính lúp. Cô chỉ cần nhìn.
Ở đống gỗ gần cổng nhất, là gỗ keo. Thân thẳng, vỏ nâu xám, đường kính chừng gang tay. Đống bên cạnh là bạch đàn, vỏ bong từng mảng trắng loang lổ. Và đống phía trong, chỉ thấy được một nửa, là những khúc gỗ to hơn, vỏ màu xám tro. Trên vỏ có những vạch xéo chạy vòng quanh thân, song song nhau, đều đặn, như ai lấy cây thước kẻ những đường chéo lên đó.
Vết cạo mủ.
Cô biết nó. Ai học nghề gỗ ở miền Đông cũng biết. Cây cao su người ta cạo mủ suốt hai, ba chục năm, mỗi sáng một đường dao mỏng, xoắn chéo xuống thân cây, để mủ chảy theo vào cái chén hứng. Năm này qua năm khác, vỏ cây lành lại, để lại những vết sẹo chạy xéo, xếp thành từng tầng. Khi vườn cao su già, hết mủ, người ta đốn đi bán gỗ. Những khúc gỗ đó, nếu chưa bóc vỏ, mang theo những vết sẹo ấy tới tận bãi cưa.
Đầu mỗi khúc gỗ trong bãi đều có một vệt sơn đỏ. Cô nheo mắt nhìn. Một chữ N, nét sổ cuối kéo dài ra thành một mũi tên chỉ lên trên.
– Chữ N. – Cô nói nhỏ.
– Răng?
– Đầu khúc gỗ. Sơn đỏ, chữ N có mũi tên. Đánh dấu của bãi.
Trung nhìn theo. Rồi anh nhích người, xoay lưng lại phía cổng, móc điện thoại ra, giả vờ chụp hình ly nước mía, nhưng ống kính nghiêng qua vai.
Bà cụ bưng nước mía ra, đặt xuống bàn. Bà chừng bảy mươi, đội cái nón lá rách vành, tay chân đen sạm.
– Hai đứa đi đâu mà vô tận đây? – Bà hỏi.
– Dạ, tụi con đi mua gỗ làm chuồng gà. – Trung nói, cười. – Nghe nói bãi bên kia có bán gỗ dạt.
– Bãi bà Nguyệt hả? – Bà cụ liếc qua đường, môi trề ra. – Bãi đó không bán lẻ đâu. Bán cho công ty lớn không à. Xe vô ra cả đêm, ồn muốn chết, ngủ không được. Biển xe ngoài Bắc ngoài Trung không, mà ở đây hoài, không thấy về.
– Bà Nguyệt người đâu bà?
– Người ngoài Trung. Ít khi ở đây. Ở đây có thằng cháu bả coi bãi.
Dao cúi xuống uống nước mía, cố không để tay run. Nước mía ngọt lịm, có vị tắc chua chua.
Trung vẫn đang chụp. Rồi anh khựng lại, kéo tay áo cô.
– Dao. Coi kìa.
Ở góc trong của bãi, khuất sau đống gỗ cao su, là đầu một chiếc xe tải thùng màu xanh dương. Kính chắn gió bám bụi đỏ. Và trên kính, treo lủng lẳng từ cái gương chiếu hậu trong cabin, là một con khỉ bông màu đỏ, to bằng trái dừa.
Cô không nhìn thấy biển số. Từ chỗ này không nhìn thấy được. Nhưng cô không cần.
Rồi cô nhớ ra.
Nó tới không phải bằng mắt, mà bằng lòng bàn tay. Cái cảm giác thô ráp dưới miếng bao bố gấp đôi. Một chỗ gồ lên, chạy xéo, như một vết sẹo dài. Cái ghế đẩu ở chái nghỉ của ca lò sấy, cái hôm cô về lấy đồ, ngồi uống nước chè xanh.
– Anh Trung. – Cô nói, giọng gấp. – Mấy cái ghế đẩu ở lò sấy. Anh em ca anh đóng hôm sinh nhật anh. Khúc gỗ đó có để nguyên vỏ không?
Trung nhìn cô, chưa hiểu.
– Có. Tụi hắn để nguyên vỏ cho đẹp, lót bao bố lên cho khỏi dằm đít.
– Trên vỏ có mấy vết chạy xéo không? Song song, đều đều, như ai lấy dao vạch?
Trung im. Anh nhíu mày, như đang nhìn vào trong trí nhớ.
– Có. – Anh nói chậm. – Có. Anh tưởng là vết sâu đục. Anh còn chửi tụi hắn lấy gỗ sâu ra đóng ghế.
Hai người nhìn nhau. Cùng một lúc, cả hai cùng hiểu.
Mấy khúc gỗ đầu mẩu đó lấy từ đâu? Từ đống đầu mẩu cạnh lò hơi, nơi người ta đổ những mẩu gỗ thừa sau khi cắt khúc gỗ tròn ở bãi A cho vừa chiều dài lưỡi cưa. Gỗ ở bãi A là gỗ chứng chỉ. Gỗ Khe Sến. Và gỗ Khe Sến thì không thể nào có vết cạo mủ.
– Hai đứa chụp cái gì đó?
Giọng đàn ông, ngay sau lưng.
Dao giật mình quay lại. Hai người đàn ông đứng cách bàn chừng ba bước. Một người trung niên, bụng phệ, áo thun ba lỗ. Một người trẻ hơn, gầy, đội mũ lưỡi trai, tay cầm điện thoại. Không ai thấy họ băng qua đường từ lúc nào.
– Dạ, tụi em chụp hình ly nước mía. – Trung nói, đứng dậy, chắn trước mặt cô. Giọng anh vẫn nhẹ, nhưng vai anh thẳng lên. – Nước mía bà ngon quá, chụp đăng lên mạng.
– Chụp nước mía mà quay ống kính vô bãi người ta? – Người bụng phệ nói. – Tụi bây ở đâu tới?
– Tụi em đi mua gỗ làm chuồng gà. Bà nói bãi bên đó không bán lẻ, tụi em về liền.
Người đàn ông trẻ giơ điện thoại lên. Có tiếng tách. Rồi tiếng tách nữa. Hắn chụp mặt Trung, rồi chụp mặt Dao, rồi chụp chiếc xe máy, chụp kỹ cái biển số.
– Về đi. – Người bụng phệ nói. – Đừng để tao thấy lần nữa.
Trung trả tiền nước mía, hai mươi nghìn, đưa cho bà cụ. Bà cụ cầm tiền, không nói gì, chỉ nhìn hai người đàn ông bằng một ánh mắt khinh khỉnh rất già. Trung nổ máy. Dao ngồi lên. Họ chạy ra khỏi con đường đất đỏ, qua những hàng cao su thẳng tắp. Trong gương chiếu hậu, cô thấy hai người đàn ông vẫn đứng giữa đường, nhìn theo, cho tới khi khuất hẳn.
Ra tới quốc lộ, trời đổ mưa.
Mưa miền Đông cuối mùa, ập xuống không báo trước, nặng hạt như ném sỏi. Chỉ trong một phút, mặt đường đã trắng xoá. Trung tấp vào gầm một cái cầu vượt. Dưới đó đã có mười mấy người trú mưa: mấy anh công nhân, một bà bán vé số, một ông đẩy xe bánh mì, hai đứa học trò còn mặc áo dài trắng.
Họ đứng sát vào thành cầu, nơi mưa tạt không tới. Nước từ trên mặt cầu xối xuống thành một bức màn trắng ngay trước mặt. Tiếng mưa trên bê tông ầm ầm, phải ghé sát tai mới nghe được nhau.
– Anh có sợ không? – Cô hỏi.
– Sợ chi?
– Họ chụp mặt anh. Chụp biển số xe anh. Anh còn đi làm ở nhà máy.
Trung im một lúc. Anh nhìn ra màn mưa.
– Sợ. – Anh nói. – Mà sợ thì cũng chụp rồi.
Anh cởi cái túi ni lông trên gác-ba-ga, lấy cái áo mưa cánh dơi ra, giũ cho thẳng, rồi khoác lên vai cô. Áo mưa rộng, phủ kín cô từ đầu tới gối.
– Anh không mặc à?
– Một cái. Em mặc.
– Rồi anh ướt.
– Anh đứng lò cả đời, ướt chút cho mát.
Cô nhìn anh. Tóc anh đã ướt lấm tấm vì gió tạt mưa vào. Trên mu bàn tay trái của anh có một miếng băng gạc mới, vết bỏng lò hơi hôm nào đó.
– Tay anh sao vậy?
– Hôm thứ Năm mở cửa lò sớm quá, hơi nóng phụt ra. Không sao. – Anh giấu tay ra sau lưng, như đứa con nít bị bắt quả tang ăn vụng. – Mạ anh mà thấy là mạ chửi.
– Mạ anh ở đâu?
– Ở Nghệ An. Nhà ba gian lợp ngói, sát bờ sông. Mùa lũ nước vô tới bậc thềm, mạ anh kê đồ lên cao rồi ngồi trên chõng tre đợi nước rút. Năm mô cũng rứa. – Anh cười. – Anh gửi tiền về biểu mạ nâng nền, mạ nói nâng nền chi, nước lên rồi xuống, nhà nó vẫn đứng đó.
– Mạ anh nói đúng.
– Mạ anh nói chi cũng đúng. – Anh nói. – Trừ chuyện biểu anh lấy vợ.
Cô bật cười. Tiếng cười lẫn vào tiếng mưa ầm ầm, chắc chỉ có anh nghe thấy.
Nửa tiếng sau mưa nhỏ lại. Không tạnh hẳn, chỉ còn lắc rắc. Trung đòi chạy về luôn kẻo mưa lớn lại. Cô ngồi lên yên sau. Rồi cô kéo vạt sau cái áo mưa cánh dơi, trùm lên lưng anh, lên vai anh, chỗ được chỗ không. Một cái áo mưa một người mặc, giờ hai người chia nhau. Anh không nói gì. Anh chạy chậm hơn lúc đi.
Tối thứ Bảy, ở phòng trọ, cô gọi cho Trâm.
Cô không biết mình định nói gì. Hỏi Trâm có kể cho ai chuyện Trảng Bom không? Hay xin lỗi vì đã bỏ đi ở hành lang không quay lại? Cô chỉ biết cô phải nghe giọng Trâm. Mười một năm, chưa bao giờ cô không nghe giọng Trâm quá ba ngày.
Chuông đổ tới hết. Không ai bắt máy.
Sáng Chủ nhật, Xuân nhắn tin. Một tấm ảnh chụp màn hình, không kèm lời nào. Đó là một thông báo nội bộ của tập đoàn, đăng trong nhóm chat của nhân viên văn phòng, lúc chín giờ tối thứ Bảy.
"Quyết định bổ nhiệm bà Phù Ngọc Trâm giữ chức vụ Trưởng nhóm Tiền lương – Phúc lợi, phòng Nhân sự, kể từ ngày 30/11/2026."
Bên dưới có hai mươi mấy cái biểu tượng chúc mừng. Người đầu tiên bấm là chị Loan.
Dao nhìn tấm ảnh rất lâu. Rồi cô bấm gọi cho Trâm lần nữa.
Chuông đổ hai tiếng. Rồi im bặt. Lần này, Trâm tắt máy.
— Hết chương 13 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe