AI Truyện
Chiếc kính lúp vỏ đồng

🏙️ Đô thị & làm giàu

Chị Mận vào thành phố

Chiếc kính lúp vỏ đồng · Chương 24/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 24: Chị Mận vào thành phố

– Nóng rứa mà người ta sống được hả mi?

Chị Mận bước xuống sân ga Sài Gòn lúc sáu giờ chiều thứ Hai, cái áo khoác quân đội cũ vắt trên tay. Trên lưng chị là một cái ba lô vải căng phồng, tay kia xách một cái giỏ nhựa cột dây. Chị vừa đi gần một ngày một đêm tàu ghế ngồi cứng. Chị không chịu mua vé giường nằm, nói ngồi cũng tới, tiền đó để mua sách vở cho hai đứa nhỏ.

Dao đỡ cái giỏ. Nặng trĩu.

– Chi đây chị?

– Ruốc, mè xửng, nếp than. Với hai con gà. – Chị Mận nói. – Gà làm sẵn rồi, ướp muối, không chết mô mà sợ.

Trung đứng sau lưng Dao, lúng túng chìa tay ra đỡ cái ba lô. Chị Mận nhìn anh từ đầu xuống chân.

– Ai rứa?

– Dạ, anh Trung. Người làm chứng chuyện cái ghế.

– Người Nghệ hả? – Chị Mận nghe anh nói một câu cảm ơn đã biết ngay. – Nghệ với Quảng Trị là hàng xóm. Ri thì được.

Trung cười, gãi đầu, không biết được là được cái gì.

Chuyện chị Mận vào thành phố là do chính chị. Sau hôm Dao rời Khe Sến, cô đã đưa số điện thoại của chị cho cán bộ Diễm. Giữa tháng Mười Hai, chị Diễm gọi cho chị, hỏi chị có thể làm việc với công an tỉnh ở ngoài đó được không. Chị nói được. Rồi chị hỏi lại: cái công ty mạo tên tui ở trong đó, thì tui vô trong đó nói có được không. Chị Diễm im một lúc, rồi nói nếu chị tự nguyện vào thì cơ quan điều tra sẽ làm việc với chị ở đây. Chị gửi hai đứa nhỏ cho bà hàng xóm, mua vé tàu.

– Ông Xứng có biết chị vô không chị? – Dao hỏi, khi ba người đã ngồi trong một quán cơm bình dân gần ga.

– Biết. Tui nói ổng. – Chị Mận gắp miếng cá kho. – Tui nói ông không đi thì tui đi. Ổng ngồi cả buổi không nói chi. Bữa tui ra ga, ổng ra tận ngã ba, dúi cho tui ba trăm nghìn đi đường. Rồi ổng nói: mi vô trong nớ nói đi, tau ở ngoài ni cũng lên công an tỉnh mà nói. Tau già rồi, tau không để con mẹ góa đi một mình.

Dao đặt đũa xuống.

– Ông Xứng chịu khai hả chị?

– Ổng nói rứa. Chừ có đi hay không thì tui không biết. – Chị Mận nói. – Mà ông Xứng nói câu chi là làm câu đó. Hèn chớ không có nói láo.

Đêm đó chị Mận ngủ trên gác lửng phòng trọ của Dao. Dao trải chiếu nằm dưới sàn. Trời không mưa. Cái xô nhựa ở góc phòng khô từ lâu, Dao đã lật úp nó lại làm chỗ để cái quạt. Chị Mận nằm trên gác, nói chuyện vọng xuống, giọng chậm dần. Chị kể con bé lớn năm nay học lớp năm, đọc được cả tờ bảng kê. Hôm Dao đi, nó lấy tờ giấy photo trong túi áo mạ ra, đọc to cho cả xóm nghe, rồi hỏi mạ chín mươi sáu tấn là bao nhiêu cây. Chị không biết trả lời sao.

– Rứa là bao nhiêu cây hả mi?

Dao tính trong đầu.

– Keo bảy năm, mỗi cây chừng một phần mười tấn, có cây hơn. – Cô nói. – Chừng một nghìn cây chị.

Trên gác im một lúc lâu.

– Một nghìn cây. – Chị Mận nói. – Cả đời tui chưa trồng được một nghìn cây.

Sáng thứ Ba, chị Mận làm việc với cơ quan điều tra từ tám giờ tới gần mười hai giờ. Dao đợi ngoài cổng. Lúc chị đi ra, mặt chị đỏ, mắt hơi sưng, nhưng bước đi thẳng.

– Cô cán bộ đó tốt. – Chị nói. – Hỏi tui có bị ai ép không. Tui nói tui tự đi. Hỏi tui có ký giấy chi không. Tui kể chuyện một triệu rưỡi. Cổ đưa tui coi một tờ giấy, hỏi chữ ký có phải của tui không. Tờ giấy nhận tiền hồi tháng Ba đó mi. Mà phía trên chữ ký của tui, có người viết thêm một dòng: đồng ý cho tổ hợp tác sử dụng tên và diện tích để kê khai lâm sản khai thác năm hai nghìn hai mươi sáu. – Chị Mận dừng lại, hai tay nắm chặt quai giỏ. – Hồi tui ký, dòng đó không có. Tui thề với mi, không có.

Dao biết chị nói thật. Không phải vì cô tin. Mà vì cô đã thấy chị đọc tờ bảng kê ở cửa bếp nhà chị, đưa ra xa rồi kéo lại gần, môi mấp máy. Một người đọc chậm như vậy, ký cái gì cũng đọc. Nếu dòng đó có, chị đã thấy.

Buổi chiều, chị Mận đòi xuống nhà máy.

– Tui muốn coi cái chỗ người ta làm cái ghế từ gỗ mang tên tui. – Chị nói.

Dao không được vào cổng. Hai người ngồi ở quán bà Bảy, đúng lúc ca chiều sắp tan. Bốn giờ rưỡi, tiếng còi tan ca hú lên. Cổng sắt mở. Công nhân đổ ra, đồng phục xanh dương, nón vải, khẩu trang, xe đạp, xe máy. Nhiều người đi qua quán nước. Có người nhận ra Dao.

Tờ giấy trên cái cột bê tông vẫn còn đó. Mười một ngày rồi. Sương đêm làm mực lem thêm, mép giấy quăn lại, nhưng chữ bút lông đen vẫn còn đọc được.

– Nó còn ngồi đây nữa hả?

– Ngồi đây chờ ai? Chờ người ta đóng cửa nhà máy luôn hả?

Một người đàn ông dắt xe đạp dừng lại trước quán, nói to, cho cả dòng người nghe. Mấy người khác cũng dừng lại. Rồi thêm mấy người nữa. Bà Bảy đứng sững sau thùng đá.

Chị Mận đặt ly trà đá xuống. Chị đứng dậy.

Chị không lên bục, không có micro. Chị chỉ đứng giữa hai cái bàn nhựa thấp, cái áo khoác quân đội cũ trên người, dù trời Sài Gòn chiều đó ba mươi độ. Chị nói giọng Quảng Trị, to, rõ, như hôm đứng giữa sân hét vào màn mưa.

– Tui là Võ Thị Mận. Tui ở Khe Sến, Quảng Trị. Ai trong mấy người làm cái ghế gấp bán cho Tây, nghe tui nói một câu.

Dòng người chậm lại. Có người dừng hẳn.

– Bão năm ngoái, ba phẩy hai héc ta keo của tui đổ hết. Vợ chồng tui trồng cây đó, chồng tui mất thì tui với hai đứa nhỏ giữ. Bảy năm. Một đêm là đổ sạch. – Chị nói. – Tháng Ba tui vay tiền mua cây giống trồng lại. Chừ cây cao tới vai tui. Bảy năm nữa mới có mà bán. Rứa mà có người làm giấy, ghi tháng Tám năm nay, tui bán chín mươi sáu tấn keo cho nhà máy ni. Tên tui. Chữ ký tui. Tui có bán cây mô? Tui có thấy đồng mô của nhà máy ni?

Không ai nói gì.

– Gỗ vô nhà máy mấy người là gỗ chỗ khác. Giấy là giấy mạo tên tui. Con nhỏ ni. – Chị chỉ vào Dao. – Con nhỏ ni nó vô tận nhà tui, lội bùn lên đồi, nằm cái chõng tre của tui, bị người ta ném đá lên mái. Nó vô để coi tận mắt. Mấy người mất việc, tui thương. Mà mấy người dán ảnh nó ở cái cột kia là dán lộn người rồi. Người làm mấy người mất việc là người làm giấy mạo tên tui.

Chị ngừng. Chị thở dốc. Mặt chị đỏ bừng.

Dòng người đứng im một lúc. Rồi một vài người bắt đầu đi tiếp. Một vài người cúi đầu. Người đàn ông dắt xe đạp đứng nhìn chị Mận thêm một lúc, rồi leo lên xe, đạp đi, không nói gì nữa.

Có một người phụ nữ chừng bốn mươi, mặc đồng phục chuyền đóng gói, đi ngược dòng người, tới cái cột bê tông. Dao nhận ra chị. Chị ở chuyền đóng gói, năm ngoái cô từng xin cho chị đổi ca để đón con. Chị là người đã viết dưới bài báo hồi tháng Mười Một: con nhỏ này đeo cái kính lúp hoài, làm như mình chuyên gia lắm.

Chị đứng trước tờ giấy một lúc. Rồi chị đưa tay lên, bóc một góc, rồi bóc cả tờ. Giấy ướt, rách làm đôi. Chị vo tròn hai nửa trong tay, nhét vào túi áo đồng phục. Rồi chị đi về phía bãi xe, không nhìn lại.

Chị Rạng đứng ở cổng từ lúc nào. Chị nhìn theo người phụ nữ đó, rồi nhìn sang quán bà Bảy, gật đầu với chị Mận một cái, chậm.

Tối hôm đó, chị Mận ăn cơm với Dao và Trung ở phòng trọ. Một con gà mang từ Khe Sến luộc lên, chấm muối tiêu chanh. Trung ăn ba chén cơm. Chị Mận gắp cho anh cái đùi, nói người đứng lò phải ăn nhiều. Sáng thứ Tư chị ra ga về. Chị nói hai đứa nhỏ ở nhà chưa quen ngủ một mình.

Thứ Năm, ba mươi mốt tháng Mười Hai, ngày làm việc cuối cùng của chú Tư Đạt.

Dao ra quán bà Bảy từ sáng. Chú Tư không ngồi trong phòng kiểm soát. Chú đứng ngoài cổng, cạnh bàn cân, tay chống nạnh, nhìn từng chiếc xe ra vào như nhìn lần cuối. Giờ nghỉ trưa, chú băng qua đường, ngồi xuống ăn dĩa cơm tấm cuối cùng của bà Bảy với tư cách bảo vệ Nhà máy số 3.

Tín tới. Cậu bảo vệ trẻ đi từ cổng sau ra, đứng ở mép mái bạt, mặt đỏ như mọi lần.

– Em chào chú Tư. – Cậu nói. Rồi cậu quay sang Dao. – Chị Dao. Em… em lên công an rồi. Hôm thứ Hai.

Dao nhìn cậu.

– Em kể chuyện anh Trác sáng nào cũng xuống. – Tín nói nhanh, như sợ dừng lại thì không nói tiếp được. – Em kể chuyện anh Phúc dặn em không được nói với ai là có người ngồi máy trong phòng. Ảnh nói em mới làm, nói ra thì người ta cho nghỉ. Em sợ. Mà chú Tư lên rồi, em không lên thì em thấy em hèn. Em xin lỗi chị.

– Em không cần xin lỗi. – Dao nói. – Em cảm ơn em.

Chú Tư vỗ vai Tín mạnh tới mức cậu lảo đảo. Rồi chú gọi bà Bảy cho thêm dĩa cơm.

Đêm giao thừa dương lịch, Trung chở Dao lên cây cầu bộ hành bắc qua con đường lớn trước khu công nghiệp. Anh nói nửa đêm đứng đó coi được pháo hoa ở trung tâm thành phố, xa lắm, nhưng thấy. Hai người tới từ hơn mười giờ, sớm gần hai tiếng. Hai người đứng tựa vào lan can sắt. Bên dưới, dòng xe máy chảy về phía thành phố, đèn vàng, đèn đỏ, như một con sông có lửa.

Gió đêm cuối năm se lạnh. Cô kéo khoá áo khoác lên tới cằm.

– Năm sau em tính răng? – Trung hỏi.

– Em chưa biết. – Cô nói. – Còn anh?

– Anh cũng chưa biết. Nhà máy nói tháng sau còn chạy hay không thì chưa chắc. – Anh cười. – Mà anh biết một chuyện.

– Chuyện gì?

Anh không trả lời. Anh nhìn ra phía chân trời, nơi ánh đèn của thành phố hắt lên mây thành một quầng vàng đục, xa lắm, im lặng. Rồi anh đưa tay ra, đặt lên bàn tay cô đang nắm lan can sắt. Bàn tay anh thô, ấm, chỗ vết bỏng cũ hơi gồ lên.

Cô không rút tay lại. Cô xoay bàn tay mình lại, nắm lấy tay anh.

Hai người đứng như vậy rất lâu. Không ai nói gì. Bên dưới, dòng xe vẫn chảy, có đứa nhỏ ngồi sau lưng cha thổi kèn giấy toe toe, tiếng kèn bay lên tới cầu rồi tan.

Điện thoại trong túi áo khoác của cô rung.

Cô không định lấy ra. Nhưng nó rung thêm lần nữa, và cô nhớ ra giờ này là mấy giờ. Cô buông tay anh một chút, rút điện thoại ra.

Mười giờ bốn mươi.

Cái số lạ. Đầu số của nhà mạng cô chưa bao giờ dùng.

"Bãi Trảng Bom sắp được dọn. Còn hai ngày."

— Hết chương 24 —

Mục lục Chiếc kính lúp vỏ đồng

  1. 1Lát gỗ trên bàn họp tầng mười tám11 phút đọc
  2. 2Mười bốn lô trong mười ngày11 phút đọc
  3. 3Ghế đẩu ở lò sấy10 phút đọc
  4. 4Ông chủ tịch ngửi gỗ10 phút đọc
  5. 5Ba tháng lương10 phút đọc
  6. 6Ảnh mờ một nửa10 phút đọc
  7. 7Xe về lúc nửa đêm10 phút đọc
  8. 8Duyệt trước khi xe lên cân10 phút đọc
  9. 9Ba trăm triệu ghi tên em trai12 phút đọc
  10. 10Đi trình báo11 phút đọc
  11. 11Hai ngày một chuyến10 phút đọc
  12. 12Quyết định sa thải10 phút đọc
  13. 13Bãi gỗ ở Trảng Bom11 phút đọc
  14. 14Mưa Khe Sến12 phút đọc
  15. 15Rừng keo cao ngang vai10 phút đọc
  16. 16Kể cả người tốt nhất10 phút đọc
  17. 17Cái ghế đẩu còn lại11 phút đọc
  18. 18Sáu giờ mười hai phút12 phút đọc
  19. 19Bình trà atisô12 phút đọc
  20. 20Hạn chót của Haldor10 phút đọc
  21. 21Ghét lộn người10 phút đọc
  22. 22Con cá chép ở cổ tay10 phút đọc
  23. 23Đề nghị người lớn10 phút đọc
  24. 24Chị Mận vào thành phố10 phút đọc
  25. 25Đêm khám bãi10 phút đọc
  26. 26Người được chọn làm chủ mưu10 phút đọc
  27. 27Nắp bình trà10 phút đọc
  28. 28Người gửi tin nhắn10 phút đọc
  29. 29Hai ngón tay năm tám sáu9 phút đọc
  30. 30Ba chữ cái trong nắp đồng9 phút đọc
  31. 31Tạm hoãn xuất cảnh9 phút đọc
  32. 32Hai ông thợ cưa9 phút đọc
  33. 33Phiên họp ngày hai mươi lăm11 phút đọc
  34. 34Bản đính chính10 phút đọc
  35. 35Áo mưa một người mặc hai10 phút đọc
  36. 36Mùng Một ở Quy Nhơn9 phút đọc

Về truyện này

Chiếc kính lúp vỏ đồng là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →