Chương 3: Ghế đẩu ở lò sấy
– Tiền của em đàng hoàng mà chị Hai. Chị lo cái gì.
Giọng Phong lẫn trong tiếng còi xe, tiếng ai đó la "đơn bốn mươi bảy của ai", tiếng máy nổ bành bạch. Thằng em cô giao hàng ở mấy khu chung cư phía đông thành phố, sáng nào cũng ra khỏi phòng trọ từ sáu giờ, tối mịt mới về. Dao gọi lần thứ ba nó mới bắt máy.
– Mày nói lại chị nghe. Ba trăm triệu đó mày lấy ở đâu?
– Thì hồi đó em nói rồi. Em vay anh bạn làm ăn, anh ấy có tiệm sửa xe, có ký giấy hẳn hoi. Em trả dần mỗi tháng. Chị Hai tự nhiên hỏi chi vậy?
Dao không kể chuyện lá thư. Cô chỉ nói ở công ty có chuyện, người ta có thể sẽ hỏi về các khoản tiền vào tài khoản cô.
– Thì chị nói là em gửi. – Phong nói nhanh. – Em là em ruột chị, em gửi tiền lo cho ba mổ, ai cấm. Thôi em chạy đơn, thứ Bảy em qua chị.
Nó cúp máy trước khi cô kịp hỏi tên anh bạn có tiệm sửa xe.
Đó là sáng thứ Ba. Cả ngày thứ Ba Dao ở trong phòng, ngồi trên gác lửng, viết ra giấy từng ngày một trong mười ngày ở Quy Nhơn: đi chuyến xe nào, ngủ ở đâu, gặp ai, mua gì, ăn gì. Cô viết như người ta khai báo hành trình. Cô không biết viết để làm gì. Cô chỉ biết nếu không viết thì cô sẽ ngồi đó nhìn cái vườn chuối cả ngày.
Sáng thứ Tư, cô về nhà máy lấy đồ.
Cổng Nhà máy số 3 là một cái cổng sắt rộng, sơn xanh lá, hai bên có hai cột bê tông gắn đèn. Bên trái cổng là bàn cân điện tử dài hơn hai chục mét, đủ cho một chiếc xe đầu kéo nằm lên. Bên phải là phòng kiểm soát, một căn nhà nhỏ có ô cửa kính lớn nhìn ra bàn cân. Trong đó có cái máy tính PC-CONG-01 với bàn phím mất chữ E.
Chú Tư Đạt bảo vệ thấy cô từ xa, đi ra tận giữa đường.
– Con Dao. – Chú nói, giọng Nam Bộ, hai tay chống nạnh. – Tui nghe rồi. Trời đất, tụi nó nói bậy bạ gì vậy không biết.
Chú Tư sáu mươi tuổi, trước khi làm bảo vệ đã lái xe tải đường dài hai chục năm, chạy tuyến Bắc – Nam không biết bao nhiêu chuyến. Chú hay kể chuyện đèo Hải Vân hồi chưa có hầm, chuyện ngủ võng dưới gầm xe ở bến Phù Đổng, chuyện quán cơm nào ở Phan Thiết có canh chua cá ngon. Sáng nào Dao lên phòng kiểm soát, chú cũng đã pha sẵn bình trà, rót cho cô một ly nhỏ.
– Con chỉ về lấy đồ thôi chú.
– Ừ. Lấy đồ. – Chú Tư nhìn về phía sau cô. – Bữa nay có thằng Tín đi kèm con. Lệnh trên. Con đừng giận nó.
Tín là cậu bảo vệ mới hai mươi tuổi, mặt còn lún phún mụn, đứng sau lưng Dao từ nãy, mặt đỏ như bị bắt quả tang.
– Em xin lỗi chị. – Tín nói lí nhí.
– Không có gì. Đi.
Văn phòng của bộ phận nguồn gốc nằm ở tầng hai dãy nhà hành chính, cuối hành lang, cạnh phòng kế hoạch. Cái bàn của Dao ở sát cửa sổ. Xuân, cô em người Thái ở Sơn La làm cùng phòng hai năm nay, đã dọn sẵn đồ của cô vào một thùng các-tông, xếp ngay ngắn như xếp đồ cho người đi xa. Cái cốc sứ có hình con mèo, đôi găng tay vải, cái máy đo ẩm cầm tay Dao tự bỏ tiền mua hồi mới vào làm. Hai cuốn sách về giải phẫu gỗ đã bung gáy. Một tấm ảnh lồng khung nhỏ chụp ba cô đứng trước xưởng cưa ở Quy Nhơn, tay trái giấu sau lưng.
– Em không biết chị muốn mang gì nên em bỏ hết vào. – Xuân nói, giọng nhỏ, mắt đỏ hoe.
– Cảm ơn em.
Tín đứng ngoài cửa, quay lưng vào trong, giả vờ nhìn ra sân. Xuân liếc ra đó một cái, rồi cúi sát xuống thùng các-tông như đang xếp lại cuốn sách.
– Chị Dao. – Xuân thì thầm. – Hồi chị nghỉ phép tháng Tám, em thấy trên hệ thống tài khoản chị vẫn duyệt lô. Mấy lô Khe Sến. Em tưởng chị duyệt từ xa. Em không hỏi.
– Duyệt từ xa không được đâu em. Phải ở trong mạng nhà máy.
– Em không biết. – Xuân cắn môi. – Em mới làm có hai năm. Với lại mấy bữa đó anh Phúc bên thu mua có xuống, dặn em khỏi lên cổng sớm, xe Khe Sến bên thu mua tự lo giấy tờ, có người duyệt rồi. Em tưởng là chị dặn.
Dao nhìn cô em. Xuân hai mươi bốn tuổi, mới đi làm, sợ sai, sợ bị la, gặp ai lớn hơn cũng khoanh tay. Một người như vậy được dặn khỏi lên cổng thì sẽ khỏi lên cổng.
– Có ai hỏi em chuyện đó chưa?
– Chưa. Không ai hỏi em gì hết.
– Nếu có người hỏi, em cứ nói thật. Đúng những gì em thấy. Không thêm, không bớt. Nghe không?
Xuân gật.
Tín bê cái thùng các-tông giùm cô xuống cầu thang. Lối ra bãi xe đi ngang qua dãy lò sấy. Đó là một dãy sáu cái buồng lớn bằng bê tông, cửa thép, mái cao, trên nóc có ống khói của lò hơi thở ra một làn khói mỏng màu xám. Hơi nóng phả ra từ khe cửa, mang theo mùi gỗ đang khô, mùi nhựa keo hơi chua, hơi hắc. Người lạ ngửi thấy nhức đầu. Dao ngửi sáu năm rồi, cô thấy nó giống mùi cơm vừa chín.
– Dao!
Một người đàn ông từ trong khe giữa hai buồng sấy bước ra, áo bảo hộ màu cam bạc phếch, mũ vải, tay cầm một đôi ủng cao su.
Anh Trung, trưởng ca lò sấy. Người Nghệ An, ba mươi hai tuổi, cao, gầy, da đen sạm vì đứng cạnh lò hơi, hai bàn tay lúc nào cũng có vết bỏng nhỏ ở mu. Dao hay xuống lò sấy đo ẩm gỗ trước khi cho ra lò, nên quen anh từ lâu. Hai người không thân, cũng không xa. Anh là người duy nhất ở nhà máy gọi cô là "em" mà không làm cô thấy mình bị coi là con nít.
– Ủng của em để quên trong phòng nghỉ tuần trước. – Anh chìa đôi ủng ra. – Anh tính đem lên văn phòng mà nghe nói em không đi làm nữa.
– Em bị tạm đình chỉ.
– Anh nghe rồi. – Anh nhìn sang Tín, rồi nhìn lại cô. – Ngồi chút uống nước đã. Nước chè anh vừa nấu. Tín, mi cũng ngồi luôn, đứng chi cho mỏi.
Tín ngần ngừ, rồi đặt thùng các-tông xuống, ngồi luôn.
Phòng nghỉ của ca lò sấy không phải là phòng. Đó là một cái chái lợp tôn dựng tựa vào vách lò hơi, ba mặt để trống. Trong đó có một cái bàn gỗ ghép từ phế phẩm, một cái ấm nhôm to đặt trên bếp điện, và năm sáu cái ghế đẩu làm bằng khúc gỗ tròn cưa phẳng mặt trên, cao tới đầu gối. Trên mỗi cái ghế có lót một miếng bao bố gấp đôi cho đỡ dằm. Một con mèo mướp nằm cuộn tròn trên cái ghế gần lò nhất, chỗ ấm nhất.
– Con Mạt Cưa. – Anh Trung nói, hất cằm về phía con mèo. – Nó ở đây còn lâu hơn anh. Cả ca ai cũng nuôi nó, nên nó mập thù lù ri.
Dao ngồi xuống một cái ghế đẩu. Cô đặt tay lên miếng bao bố, thấy dưới lớp vải thô có chỗ gồ lên, chạy xéo, như một vết sẹo dài. Cô không để ý. Cô đang nhìn cái ca nhựa anh Trung đặt vào tay mình, nước chè xanh nấu đặc, màu vàng sậm, bốc khói.
– Chè tươi ở quê anh gửi vô. – Anh nói. – Uống chát rứa thôi, mà tỉnh.
Cô uống một ngụm. Chát thật. Chát tới tận cuống lưỡi, rồi ngọt lại.
Anh Trung ngồi xuống cái ghế đối diện, hai khuỷu tay chống lên đầu gối.
– Mấy cái ghế ni anh em ca đóng hôm sinh nhật anh đó. Cuối tháng Tám. Cả đời anh nỏ ai nhớ sinh nhật, năm ni tự nhiên tụi hắn mua cái bánh kem, rồi lôi mấy khúc gỗ đầu mẩu ra cưa, nói tặng anh bộ bàn ghế. – Anh cười, cái cười ngượng. – Ghế thì xấu, mà chắc.
– Sinh nhật anh ngày mấy?
– Hai mươi ba.
Dao gật, không nói gì. Hai mươi ba tháng Tám, cô đang ngồi bên giường ba ở khoa chấn thương, đút cho ông từng muỗng cháo.
Anh Trung nhìn ra phía bãi A. Từ chỗ này nhìn qua, thấy được hàng rào lưới B40 và những đống gỗ tròn xếp ngay ngắn trong vạch sơn xanh.
– Anh không biết chuyện giấy tờ. – Anh nói, giọng thấp xuống. – Anh chỉ biết sấy. Mà anh nói em nghe cái ni, có đúng hay không thì em tự xét. Hồi tháng Tám, có mấy đêm xe gỗ vô khuya lắm. Mười một giờ, mười hai giờ đêm. Anh đứng lò ca đêm, thấy đèn pha rọi qua hàng rào. Xe không vô cân liền, đậu ngoài đường chờ. Sáng ra mới cân. Mà có mấy bữa anh Phúc thu mua xuống tận bãi A từ sáng sớm, đứng chỉ người ta đổ gỗ. Trưởng phòng thu mua mà xuống bãi lúc sáu giờ sáng, anh làm ở đây bốn năm, chưa thấy lần mô.
– Anh có kể cho ai nghe chưa?
– Kể với ai? – Anh Trung nhún vai. – Anh là thằng sấy gỗ. Anh nói anh Phúc làm chi sáu giờ sáng, người ta hỏi lại anh sáu giờ sáng mi đứng ngó chi.
Con Mạt Cưa vươn vai, nhảy xuống ghế, đi tới cọ đầu vào ống quần Dao. Cô cúi xuống gãi cằm nó. Nó kêu rừ rừ.
Tín đứng dậy, lúng túng.
– Chị ơi, em phải đưa chị ra rồi. Em sợ trên hỏi.
– Ừ.
Anh Trung xách giùm cô đôi ủng, đi theo ra tới bãi xe. Cô buộc thùng các-tông lên yên sau chiếc xe máy cũ, lấy dây chun quấn ba vòng. Anh đứng nhìn, tay đút túi quần, như định nói gì đó rồi lại thôi.
– Có chi em cứ gọi. – Cuối cùng anh nói. – Số anh em có chưa?
– Chưa.
Anh đọc số. Cô lưu vào máy. Tên lưu: Trung lò sấy.
Cô nổ máy, chạy ra cổng. Chú Tư Đạt đứng ở bậc cửa phòng kiểm soát, giơ tay vẫy, miệng nói gì đó cô không nghe rõ. Cô chạy qua bàn cân. Bánh xe máy lăn trên mặt thép, kêu cạch một tiếng. Cô bỗng nghĩ, mười bốn chiếc xe tải đã lăn qua đúng chỗ này trong mười ngày cô vắng mặt. Và ở ô cửa kính bên cạnh, đã có ai đó ngồi trước cái máy tính có bàn phím mất chữ E, gõ tên cô vào.
Điện thoại rung trong túi áo khi cô vừa ra tới đường lớn. Cô tấp vào lề, dưới bóng một cây bằng lăng.
Má.
– Dao hả con. – Giọng má cô ở đầu dây bên kia run run, lẫn tiếng gà mái cục tác ngoài sân. Giờ này má đáng lẽ đang ở chợ, nhóm bếp than chuẩn bị cho buổi bánh xèo chiều. – Con có sao không con?
– Con không sao. Má sao vậy?
– Hồi sáng có người gọi cho ba con. Số lạ. Người ta nói con ở công ty ăn tiền, bị đuổi rồi, sắp bị bắt. – Má cô nấc lên một tiếng. – Ba con nghe xong không nói tiếng nào hết. Giờ ổng đang ngồi ngoài hiên, cầm khúc gỗ với con dao, ngồi gọt từ sáng tới giờ, hổng ăn hổng uống.
— Hết chương 3 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe