Chương 30: Ba chữ cái trong nắp đồng
Nhà ông Viễn không giống nhà của một ông chủ tịch.
Đó là một căn nhà ba tầng cũ trên con đường ven kênh, phía bắc trung tâm thành phố, mặt tiền sơn vàng đã bạc, ban công trồng mấy chậu kiểng lá. Không có cổng sắt cao, không có người gác. Trước sân là một cái bàn thợ mộc bằng gỗ dầu dài gần ba mét, mặt bàn lỗ chỗ vết đục, trên đó bày một cái bào cũ, mấy cây đục cán gỗ, một khúc gỗ đang làm dở. Dưới gầm bàn là một đống mạt cưa và vỏ bào được quét gọn vào góc.
Chị Hà mở cửa. Chị mặc áo thun, quần vải, đi dép lê. Chị nhìn Dao, nhìn cái ba lô vải sờn quai, rồi tránh sang một bên.
– Ba tôi ở sau nhà. – Chị nói. – Ba biết cô tới.
Mười giờ sáng Chủ nhật. Dao về lại thành phố từ sáng thứ Bảy, nhắn cho cái số lạ một dòng: em muốn gặp ông chủ tịch. Lần này không phải đợi tới mười giờ bốn mươi. Năm phút sau đã có trả lời: sáng mai, mười giờ, kèm địa chỉ.
Tối thứ Bảy, Trâm chạy xe lên Suối Nhum, mang theo một bịch bánh tráng trộn. Dao đưa cho Trâm cái kính lúp, chỉ cách lật ngược nó lại, soi tròng kính vào chính cái nắp của nó. Trâm nheo một mắt, nghiêng về phía bóng đèn, nhìn rất lâu.
– L. – Trâm đọc. – T. Rồi V.
Rồi Trâm đặt cái kính lúp xuống bàn, như đặt một vật nóng.
– Trời đất ơi. – Trâm nói, lần này nhỏ tới mức gần như thì thầm. – Mười một năm bà đeo cái này lên tầng mười tám họp. Ổng ngồi cách bà có hai cái ghế.
– Hôm đó ổng đi công tác. – Dao nói. – Ghế chủ tịch để trống.
– Thì hôm khác. Tất niên. Lễ tổng kết. – Trâm lắc đầu. – Ổng không thấy à?
– Người ta không nhìn cái kính lúp trên cổ một đứa nhân viên. – Dao nói. Rồi cô nhớ lại cái nhìn của ông Viễn hôm ở kho phế phẩm, cái nhìn như người ta nhìn một tấm ảnh cũ mà mình không nhớ đã chụp ở đâu. – Hôm đó ổng nhìn ra ba tui trên mặt tui. Chớ không phải nhờ cái kính.
Trâm ngồi im một lúc. Rồi Trâm kể chuyện trên tầng hai mươi. Từ hôm anh Trác lên khai lần hai, chị Loan không còn được mời vào họp ban điều hành nữa. Anh Khiêm vẫn đi làm, vẫn mặc áo sơ mi trắng, vẫn đeo cái đồng hồ màu cam, nhưng cửa phòng anh đóng suốt. Thư ký của anh xin nghỉ phép không lương. Người ta đồn hội đồng quản trị sắp họp. Không ai biết họp về chuyện gì.
– Bà định nói gì với ổng? – Trâm hỏi.
– Tui không biết. – Dao nói. – Ba tui biểu đem trả cái kính. Tui đem trả.
– Rồi tờ giấy?
Dao không trả lời. Trâm cũng không hỏi lại. Hai đứa ngồi ăn hết bịch bánh tráng trộn, cay xé lưỡi, không ai nói thêm câu nào về tờ giấy.
Cô đi theo chị Hà qua một gian nhà dài, tường treo mấy tấm ảnh đen trắng. Một cái xưởng mộc mái tôn, mấy người thợ cởi trần đứng cạnh đống ván, một người đàn ông trẻ ôm một đứa bé gái. Ra tới sân sau. Một cái sân nhỏ lát gạch, có cây khế già, có một bộ bàn ghế đá.
Ông Viễn ngồi ở đó. Áo sơ mi trắng bỏ ngoài quần, dép quai hậu mòn gót. Trước mặt ông là một ấm trà, hai cái tách. Ông không đứng dậy khi cô bước ra. Ông nhìn cô, như hôm ở kho phế phẩm, cái nhìn của người nhìn một tấm ảnh cũ.
– Ngồi đi con.
Cô ngồi xuống cái ghế đá đối diện. Chị Hà không ngồi. Chị đứng tựa vào gốc khế, khoanh tay, cách một quãng.
Ông Viễn rót trà. Trà Bảo Lộc, nước vàng trong, thơm mùi cốm. Ông đẩy một tách về phía cô.
– Con về Quy Nhơn rồi hả.
– Dạ.
– Ba con khỏe không?
– Dạ, ba con đi được rồi. Chỉ cần cây gậy.
Ông gật. Ông không hỏi gì thêm. Ông cầm tách trà lên, không uống, chỉ cầm.
Dao lấy cái kính lúp trong túi áo ngực ra. Cô đặt nó lên mặt bàn đá, giữa hai tách trà.
Ông Viễn nhìn nó.
Cô đã nghĩ ông sẽ nói gì đó. Hỏi gì đó. Hoặc ít ra cũng đưa tay ra cầm. Nhưng ông không làm gì hết. Ông chỉ nhìn. Cái tách trà trong tay ông nghiêng dần, nghiêng dần, cho tới khi nước trà sóng sánh tràn qua miệng tách, chảy xuống mu bàn tay ông, nhỏ giọt xuống mặt bàn đá. Ông không để ý.
Chị Hà bước tới một bước, rồi dừng lại.
Rất lâu. Lâu tới mức một con chim sâu bay xuống đậu trên cành khế, nhảy qua nhảy lại, rồi bay đi. Lâu tới mức Dao nghe được tiếng xe máy ngoài đường ven kênh, tiếng một người bán ve chai rao kéo dài.
Rồi ông Viễn đặt tách trà xuống. Ông đưa bàn tay phải ra, cầm cái kính lúp lên. Ngón cái của ông, cái ngón có vết sẹo trắng chạy ngang, lần lên vết móp ở mép nắp.
– Cái móp này. – Ông nói. Giọng ông khàn, như lâu rồi không nói. – Chú làm rớt nó xuống nền xi măng ở bến xe Quy Nhơn. Năm tám ba. Chú ôm nó khóc như mất của. Ba con cười chú cả tháng.
Ông mở nắp. Ông nhìn vào mặt trong nắp. Ông không cần soi. Ông biết trên đó có gì.
– Ba con kể cho con nghe hết rồi.
– Dạ.
– Kể cái đêm đó?
– Dạ. Ba con nói ba tự đưa tay vô. Ba con nói ba không giận vì hai ngón tay. Ba giận vì chú đi không nói một tiếng.
Ông Viễn nhắm mắt lại.
– Chú không dám nói. – Ông nói. – Má chú mất rồi. Chú không còn ai ở đó. Chú nhìn bàn tay ba con mỗi ngày, mỗi bữa ăn, mỗi lần ổng cầm chén cơm. Chú không chịu nổi. Chú nghĩ chú đi rồi chú làm ăn được, chú sẽ về trả. Rồi chú làm được. Chú có xưởng, có nhà máy, có bốn nghìn người. Mà càng có nhiều càng không dám về. Bốn chục năm. Mỗi lần có người ở Quy Nhơn vô xin việc, chú nhận hết, chú hỏi có biết ông Mạch đứng cưa dưới Ghềnh Ráng không. Người ta nói ổng còn đứng cưa. Ổng khỏe. Chú nghe vậy là đủ. Chú không dám hỏi thêm.
Ông mở mắt ra, nhìn vết sẹo trắng trên ngón cái của mình.
– Cái sẹo này là đêm đó. – Ông nói. – Chú nhảy xuống, chụp lưỡi cưa cho nó đừng đi xuống nữa. Trễ rồi. Ba con nói mày đi đi. Chú đi.
Dao không nói gì. Chị Hà vẫn đứng ở gốc khế, mặt quay đi chỗ khác.
– Con tới đây không phải vì cái kính lúp. – Ông Viễn nói. – Chú biết. Con hỏi đi.
Cô nhìn ông.
– Tờ giấy chú ký tháng Mười Một năm hai lăm. – Cô nói. – Vì sao chú ký?
Ông Viễn rót thêm trà vào tách của mình, rồi lại không uống.
– Tháng Mười năm đó bão. – Ông nói. – Chú đi ra Khe Sến sau bão. Chú đứng trên đồi, nhìn rừng keo đổ rạp. Hai trăm mấy chục héc ta. Bà con ngồi giữa đống cây đổ mà khóc. Chú về. Một tuần sau Haldor gửi bản dự thảo đơn mùa hè. Ba mươi phần trăm sản lượng Nhà máy số 3. Hồ sơ niêm yết đang làm dở. Thằng Khiêm vô phòng chú, đặt tờ giấy đó lên bàn. Nó nói anh Viễn ơi, keo vẫn là keo, chỉ khác tờ giấy. Sáu tháng thôi. Rừng lên lại là xong. Bốn nghìn người không mất việc.
– Chú ký.
– Chú ký. – Ông nói. – Chú ký rồi chú giao cho nó làm. Chú không hỏi nữa. Chú tự nói với mình: tạm thời. Một cây thôi. – Ông dừng lại, rồi cười, cái cười của người già vừa nghe mình nói lại một câu của bốn chục năm trước. – Con thấy không. Một cây thôi.
– Rồi tháng Tám…
– Tháng Tám chú không biết gì. – Ông Viễn nói. – Chú không biết thằng Khiêm mua giấy của Khe Sến mà chở gỗ cao su, bạch đàn về. Chú không biết nó chở cả gỗ rừng. Chú không biết nó dùng tên con. Chú biết khi con Hà đặt cái bảng cân bằng khối lượng lên bàn chú hồi tháng Chín. Rồi chú biết thêm cái hôm chú đứng trong kho phế phẩm, ngửi cái thanh nan cao su, nghe con nói ba con tên Âu Văn Mạch.
Ông nhìn cô.
– Từ hôm đó tới giờ chú không ngủ được một đêm nào cho trọn.
– Vậy sao chú để người ta sa thải con?
Ông Viễn không trả lời ngay. Chị Hà quay lại, nhìn cha.
– Vì chú hèn. – Ông nói. – Thằng Khiêm giữ một bản tờ giấy đó. Nó nói với chú: anh Viễn đụng tới em thì tờ giấy lên báo, hồ sơ niêm yết đổ, ngân hàng rút vốn, bốn nghìn người ra đường trước Tết. Chú tin. Chú để nó làm. Tháng Mười Hai nó đưa chú tờ đề nghị thưởng cho thằng Phúc. Một tỷ hai. Nó nói thằng Phúc mà không được thưởng thì thằng Phúc khai. Chú ký. – Ông nhìn xuống bàn tay mình. – Chữ ký đó con bạn con thấy rồi phải không? Con Hà nói với chú.
– Dạ.
– Chú ký cái đó bằng cái tay này. – Ông nói. – Cái tay bốn chục năm trước đã chụp lưỡi cưa. Chú ký mà không run.
Ông đặt cái kính lúp xuống mặt bàn đá, đẩy nó về phía cô.
– Ba con biểu con đem trả chú?
– Dạ. Ba con nói ba hổng giận nữa.
Ông Viễn nhìn cái kính lúp nằm giữa hai tách trà. Ông không cầm lên lại.
– Chú không nhận ở tay con. – Ông nói. – Ổng đưa thì ổng phải tự trả. Con cầm về đi.
Dao cầm cái kính lúp lên. Cô bỏ vào túi áo ngực. Rồi cô nói câu cuối cùng ba cô dặn, đúng từng chữ, không thêm không bớt, như đọc một số đo ẩm.
– Ba con dặn: nhưng lần này, đừng để ai gánh thay.
Ông Viễn ngồi im. Chị Hà bước tới, đứng sau lưng cha, đặt một tay lên vai ông. Y như má cô đã làm với ba cô ba hôm trước, ở cái hiên lát gạch tàu ngoài Quy Nhơn.
Rất lâu sau, ông Viễn ngẩng lên. Mắt ông đỏ. Ông không lau.
– Ba con có chịu vô đây gặp chú không? – Ông hỏi.
— Hết chương 30 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe