Chương 14: Mưa Khe Sến
Con tàu rời ga Sài Gòn lúc bảy giờ tối thứ Hai, kéo theo một vệt còi dài qua những dãy nhà sát đường ray. Ở đó người ta ngồi ăn cơm ngay trước cửa, cách bánh tàu chưa tới hai mét.
Dao nằm ở giường tầng hai một khoang bốn giường. Vé một triệu ba trăm hai chục nghìn, giường nằm điều hoà, đi Đông Hà. Gần một ngày một đêm. Cô chọn tàu vì rẻ hơn máy bay, và vì cô cần thời gian để nghĩ. Ở giường dưới là một bà cụ đi thăm con ở Huế, mang theo hai giỏ chôm chôm và một con gà luộc gói lá chuối. Đối diện là hai vợ chồng trẻ ôm đứa con nhỏ, đứa bé khóc từ ga Sài Gòn tới ga Biên Hòa thì ngủ.
Cô nằm nghiêng, nhìn ra cửa sổ. Bên ngoài tối dần. Đèn những khu công nghiệp sáng trưng như những thành phố nhỏ mọc giữa đồng. Rồi tới những đồi cao su đen thẫm.
Sáng nay, cô lên trụ sở làm thủ tục. Nhận lại sổ bảo hiểm xã hội, nhận tiền lương những ngày làm việc cuối và tiền phép năm chưa nghỉ. Chị Loan không ra gặp. Một cô nhân viên khác ở phòng nhân sự đưa giấy cho cô ký, mắt không dám nhìn lên. Trâm không có ở bàn. Cô không hỏi Trâm đi đâu.
Tám giờ tối, tàu qua khỏi Long Khánh, điện thoại reo. Anh Trác.
– Dao à. Anh nghe tiếng tàu. Em ra Quảng Trị hả?
Cô ngạc nhiên. Cô chưa nói với ai ngoài luật sư Tú và Trung.
– Sao anh biết?
– Thì anh đoán. – Anh cười nhỏ. – Em đã đi Trảng Bom thì kiểu gì cũng đi Khe Sến. Anh làm với em sáu năm mà. Em đi một mình hả?
– Dạ.
– Trảng Bom em thấy gì?
Cô kể. Cô kể bãi gỗ cạnh cây xăng, những khúc cao su có vết cạo mủ, chữ N đỏ có mũi tên, chiếc xe có con khỉ bông đỏ. Cô kể luôn chuyện mấy cái ghế đẩu ở lò sấy, rằng anh Trung đang giữ chúng, rằng nếu đúng thì đó là gỗ cao su đã vào bãi A tháng Tám.
Đầu dây bên kia im một lúc lâu.
– Em giỏi. – Anh Trác nói. Giọng anh nghe mệt. – Em giỏi hơn anh nghĩ. Ra ngoài đó em cẩn thận. Người ở đó họ không biết em, họ chỉ biết em ở công ty vô. Mà công ty vô thì họ sợ.
– Dạ.
– Có gì gọi anh.
Cô tắt máy. Cô nằm nhìn lên trần khoang, nơi cái quạt nhỏ quay chầm chậm. Trong đầu cô vang lên một câu hỏi, rất nhỏ: anh Trác đoán, hay có ai nói với anh? Rồi cô gạt đi. Anh là người đã ký đề xuất in mã lô sản xuất của cô. Anh là người duy nhất ở tầng mười hai không giơ tay.
Cô mở tin nhắn với Trâm. Tin cuối cùng vẫn là cái mặt cười, và câu đừng làm thám tử một mình nghe chưa. Cô gõ: "Tui đang trên tàu ra Quảng Trị." Rồi xoá. Gõ: "Chúc mừng bà." Rồi xoá. Cô tắt màn hình, nhắm mắt.
Tàu tới Đông Hà lúc sáu giờ chiều thứ Ba. Trời đã tối, mưa lâm thâm, gió bấc lạnh buốt. Cô bước xuống sân ga, hít vào một hơi, thấy lạnh tới tận phổi. Ở Sài Gòn giờ này người ta còn mặc áo thun. Ở đây ai cũng mặc áo khoác, quấn khăn.
Cô thuê một phòng nhà nghỉ gần ga, hai trăm rưỡi một đêm. Phòng có mùi ẩm, chăn dày, nước nóng chảy được ba phút thì lạnh. Cô ăn một tô bánh canh cá lóc ở quán đầu ngõ, ba mươi lăm nghìn, nước dùng cay nồng ớt bột, rồi về phòng, ngủ một mạch tới sáng.
Bảy giờ sáng thứ Tư, cô bắt xe khách đi lên phía tây. Xe chạy hai tiếng, qua những đồi keo xanh thẫm trùng trùng, qua những thị trấn nhỏ có chợ họp ven đường, qua những cây cầu sắt bắc qua sông đục ngầu. Cô xuống ở một ngã ba, nơi có tấm biển chỉ đường vào xã Khe Sến. Một anh xe ôm đứng đợi dưới mái hiên quán tạp hoá, áo mưa bạc màu, mũ bảo hiểm cột dây dưới cằm.
– O vô Khe Sến hả? – Anh hỏi. – Đường trơn lắm nờ. Năm chục.
– Dạ.
Con đường đất đỏ vào Khe Sến dài mười hai cây số, ngoằn ngoèo theo sườn đồi. Mưa mấy ngày liền làm mặt đường nhão như bột, bánh xe máy lún xuống, trượt ngang, anh xe ôm phải chống chân xuống đất mấy lần. Hai bên đường là đồi. Không phải đồi keo xanh thẫm như ngoài quốc lộ. Đồi ở đây lốm đốm. Chỗ có keo non lưa thưa, cao chừng đầu người. Chỗ trơ đất đỏ, rải rác những gốc cây cưa ngang, đen sì. Chỗ có những thân cây đổ rạp nằm nguyên, cành khô chĩa lên trời như xương cá.
– Bão năm ngoái đó o. – Anh xe ôm nói, nghiêng đầu ra sau cho cô nghe. – Cả vùng ni đổ hết. Bà con khóc như mưa. Mấy năm trồng, một đêm là hết.
Nhà ông Trương Đình Xứng ở giữa xã, gần uỷ ban, là một căn nhà cấp bốn mái tôn có cái sân xi măng rộng, trước sân là một giàn mướp đã tàn. Hai năm trước cô từng ở đây một đêm, ăn cơm với cá suối kho, nghe ông kể chuyện. Chuyện tổ hợp tác được cấp chứng chỉ rừng, chuyện bà con đổi cây tràm lấy cây keo lai, chuyện mấy đứa con trong xóm nhờ tiền bán keo mà đi học đại học. Hồi đó ông vui, uống rượu nói to.
Hôm nay ông ra mở cổng, nhìn cô, rồi nhìn anh xe ôm, mặt không vui.
– Cô Dao bên Thịnh Viễn. – Ông nói. – Răng vô đây mà không báo trước?
– Dạ, con có việc gấp chú.
Ông mời vào nhà. Ông rót nước chè xanh, đặt trước mặt cô. Ông sáu mươi mốt tuổi, gầy, tóc bạc nửa đầu, mặc cái áo len cũ màu nâu đã xổ sợi ở cổ tay. Trên bàn thờ có ảnh một bà cụ, chắc là mẹ ông, và một bình hoa cúc nhựa.
Cô không nói mình đã bị sa thải. Cô chỉ nói công ty có vấn đề với một số lô gỗ Khe Sến hồi tháng Tám, cô vào để đối chiếu.
– Gỗ thì vẫn bán bình thường. – Ông Xứng nói, nhìn xuống chén nước. – Bão thì có đổ, mà bà con tận thu. Gỗ đổ cũng là gỗ.
– Tháng Tám năm nay, tổ hợp tác mình bán bao nhiêu tấn chú?
– Thì… cũng có bán. Tui không nhớ chính xác. Sổ sách để ở nhà kế toán.
– Bán cho ai trực tiếp chú? Xe nào vô chở?
– Bên thu mua của công ty cô lo xe. Tui chỉ lo giấy tờ cho bà con.
– Con muốn lên coi vườn keo của mấy hộ có tên trong bảng kê tháng Tám. – Cô nói. – Hộ chị Võ Thị Mận, hộ chú Trần Văn Lập…
Ông Xứng đặt chén nước xuống bàn, hơi mạnh.
– Mùa ni đường lên đồi trơn lắm, cô không đi được mô. Để khi khác.
– Con đi được chú.
Ông nhìn cô một lúc. Rồi ông đứng dậy, nói ở lại ăn cơm trưa, nhà có cá suối. Cô ở lại. Bữa cơm có cá suối kho nghệ, rau rừng luộc chấm mắm ruốc, canh bầu. Ông Xứng ăn ít, không uống rượu, cứ đứng dậy đi ra sân rồi lại vào. Cô hỏi gì ông cũng trả lời chừng chừng, rồi lái sang chuyện khác. Chuyện giá keo năm nay xuống. Chuyện cây giống keo lai giờ đắt. Chuyện thằng con ông ở Đà Nẵng mới có đứa thứ hai.
Hai giờ chiều, cô cảm ơn ông, ra về. Ông tiễn cô ra tới cổng, đứng nhìn theo.
Anh xe ôm đợi ở quán nước đầu xóm. Cô hỏi anh có biết nhà chị Võ Thị Mận không.
– O Mận hả? Biết chớ. Nhà sát suối, cuối xóm dưới. – Anh nhìn cô. – O tìm o Mận làm chi?
– Em hỏi chuyện gỗ.
– Rứa thì o Mận nói cho mà nghe. – Anh cười. – O Mận nói to lắm.
Nhà chị Mận nằm ở cuối một con dốc, sát một con suối đang chảy xiết, nước đục ngầu màu đất. Căn nhà gạch nhỏ, mái ngói cũ, trên bức tường vôi vàng có một vệt nước ngang tầm thắt lưng, vết lũ năm ngoái còn để lại. Trước sân có mấy luống cải, một cái chuồng gà, hai đứa nhỏ chừng tám, mười tuổi đang ngồi xổm dưới mái hiên chơi bắn bi.
Chị Mận từ trong bếp đi ra, tay còn cầm cái muôi. Chị bốn mươi tuổi, người chắc, da sạm nắng gió, tóc búi củ tỏi, mặc áo khoác quân đội cũ. Chồng chị mất bốn năm trước vì tai nạn ở bãi khai thác đá. Từ đó một mình chị nuôi hai đứa con với ba héc ta keo.
– Ai rứa?
Dao giới thiệu. Thịnh Viễn. Bộ phận nguồn gốc. Chị Mận nghe tới chữ Thịnh Viễn thì mặt sầm xuống.
– Thịnh Viễn mua gỗ của tổ hợp tác. Mà tui thì chưa thấy đồng mô của Thịnh Viễn hết. – Chị nói. – Cô vô đây làm chi?
Dao không trả lời ngay. Cô mở ba lô, lấy ra một tờ giấy đã photo, đưa cho chị. Tờ bảng kê lâm sản của lô N3-2008-02, ngày hai mươi tháng Tám. Dòng thứ ba ghi: Võ Thị Mận. Diện tích: ba phẩy hai héc ta. Loài cây: keo lai. Hình thức: khai thác chính. Thời gian khai thác: tháng Tám năm hai nghìn hai mươi sáu. Khối lượng: chín mươi sáu tấn.
Chị Mận cầm tờ giấy, đưa ra xa, rồi kéo lại gần. Môi chị mấp máy. Đọc lần thứ hai. Rồi chị ngẩng lên. Mặt chị đỏ bừng.
– Cái chi đây?
– Bảng kê gỗ khai thác. Có tên chị. Gỗ này nhập vô nhà máy em ngày hai mươi tháng Tám.
– Tui có bán cây mô? – Chị Mận nói, giọng vút lên, hai đứa nhỏ ngoài hiên ngừng chơi bắn bi, ngẩng lên nhìn. – Cây của tui đổ hết từ hồi bão năm ngoái. Cả ba héc ta, đổ rạp như người ta lấy chổi mà quét. Tui với mấy anh em trong xóm cưa ra tận thu, bán rẻ cho thương lái hồi tháng Chạp, được có mười mấy triệu. Phần còn lại mục, mốc, bỏ đó. Ra Giêng tui vay tiền mua cây giống trồng lại hết. Cây mới chừ cao ngang vai tui. Lấy chi mà bán chín mươi sáu tấn tháng Tám?
– Chị có ký giấy gì cho tổ hợp tác năm nay không?
Chị Mận khựng lại.
– Có. – Chị nói, chậm hơn. – Hồi tháng Ba. Ông Xứng đi từng nhà, đưa mỗi nhà một triệu rưỡi, nói là tiền công ty trong đó hỗ trợ bà con sau bão. Biểu ký giấy nhận tiền. Tui ký. Cả xóm ký. Ai mà không ký, đang cần tiền mua cây giống.
– Chị có đọc giấy đó không?
– Đọc chi. Giấy nhận tiền thì ký. – Chị nhìn tờ bảng kê trong tay, rồi nhìn Dao. – Cô nói tui nghe đi. Tên tui nằm trên tờ ni là răng?
Dao không biết trả lời thế nào cho đủ. Cô nói thật. Cô nói có người đã dùng tên chị, tên những hộ khác trong tổ hợp tác, để làm giấy tờ cho gỗ không phải gỗ Khe Sến. Cô nói gỗ đó đã vào nhà máy, đã thành ghế, đã bán sang nước ngoài. Cô nói cô bị đuổi việc vì chuyện đó.
Chị Mận nghe xong, im lặng rất lâu. Rồi chị gấp tờ giấy làm tư, đút vào túi áo khoác.
– Cô ở lại đây đêm ni. – Chị nói. – Trời sắp tối rồi, đường ra ngã ba trơn, xe ôm không chạy mô. Mai tui dẫn cô lên đồi coi. Cho cô thấy tận mắt cây của tui cao tới mô.
Đêm đó Dao ngủ trên cái chõng tre ở gian ngoài nhà chị Mận. Chị đưa cho cô cái chăn bông dày, mùi long não. Bữa tối có cơm, trứng chiên, canh rau má nấu tôm khô. Hai đứa nhỏ ăn xong thì chui vào màn, rúc rích nói chuyện với nhau bằng giọng Quảng Trị, cô nghe không hiểu hết. Mưa rơi trên mái ngói, chảy xuống máng xối thành một dòng nhỏ, đều, như tiếng ai đang đọc kinh.
Cô nằm nghe mưa, nghĩ tới ba. Ba cô chắc cũng đang nằm nghe sóng.
Gần mười một giờ đêm, có một tiếng động.
Rầm.
Một vật gì đó rơi trúng mái ngói, ngay trên đầu cô, rồi lăn lộc cộc xuống, rơi bịch xuống sân. Trong buồng, đứa nhỏ giật mình khóc thét. Chị Mận bật dậy, vớ cây đèn pin, chạy ra cửa.
– Đứa mô đó? – Chị hét ra ngoài màn mưa. – Đứa mô ném đá nhà tau?
Không ai trả lời. Chỉ có tiếng mưa và tiếng suối chảy xiết.
Chị Mận rọi đèn pin xuống sân. Một cục đá bằng nắm tay nằm giữa luống cải, ướt nhẹp. Trên mái ngói, một viên ngói đã vỡ, nước bắt đầu nhỏ giọt xuống ngay cạnh cái chõng tre.
Rồi có ánh đèn pin khác, từ dưới dốc đi lên. Một bóng người mặc áo mưa, bước chậm trên con đường đất trơn. Tới đầu sân, người đó dừng lại, kéo mũ áo mưa xuống.
Ông Xứng.
Mặt ông ướt nước mưa, tóc bạc bết vào trán. Ông không nhìn chị Mận. Ông nhìn Dao, đứng sau lưng chị, tay còn quấn cái chăn bông mùi long não.
– Cô về đi. – Ông nói. Giọng không giận, chỉ mệt, mệt như người đã đi bộ rất xa. – Sáng mai cô về đi. Đừng làm khổ bà con.
— Hết chương 14 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe