Chương 1: Gói thuốc buộc nút con bướm
Cánh cửa bức bàn của Bảo Hòa Đường bật vào trong, then gỗ văng xuống nền gạch, và một gã đàn ông ướt sũng đứng giữa mưa, trên lưng cõng một người khác.
– Thầy lang đâu? Gọi thầy lang ra đây!
Dương Ngọc Sa đang ngồi tán bột hoài sơn dưới ngọn đèn dầu lạc. Cô đặt chày xuống, nhìn cái then cửa nằm chỏng chơ, rồi nhìn đôi ủng da đen bê bết bùn đang dẫm lên chiếu phơi thuốc của cô.
– Cha tôi đi bắt mạch cho người ta chưa về. Anh bước lùi ra khỏi cái chiếu giùm tôi. Đó là ba cân bạch truật.
Gã kia không lùi. Gã quay người cho cô thấy kẻ trên lưng: một người lính, mặt trắng bệch, cánh tay trái quấn tạm bằng vạt áo xé, máu thấm đen cả mảnh vải.
– Cọc rào doanh trại đâm vào tay. Ngựa hất xuống. Đi gọi cha cô về.
– Nhà ông Hàn ở tận cửa Nam, đi về hết nửa canh giờ. – Sa đã đứng dậy, kéo cái ghế dài ra giữa nhà. – Đặt anh ấy nằm xuống đây. Cốm! Cốm ơi, dậy nhóm bếp, đun một nồi nước muối, bỏ hai nắm muối hột vào.
Từ sau tấm rèm cót, một thằng bé mười ba tuổi lồm cồm bò ra, mắt còn dính ghèn, tóc dựng như tổ chim. Nó nhìn hai người lạ, nhìn vũng nước đang loang trên nền, rồi chạy vụt ra sau bếp không hỏi một câu.
Gã đàn ông đặt người lính xuống ghế, nhưng tay vẫn chặn lên vai, không cho Sa lại gần.
– Cô biết làm à?
– Tôi biết rửa. Biết khâu. Biết cầm máu. Còn nếu anh muốn đợi nửa canh giờ thì cứ đợi, máu nó chảy chứ có phải tôi chảy đâu.
Lúc ấy gã mới nhìn kỹ cô. Sa thấy một khuôn mặt còn trẻ, chừng hai mươi, gò má rám gió, lông mày rậm ướt nước mưa dính bết lại, và một vết sẹo nhỏ trắng bệch ngang cằm. Áo chẽn màu chàm của cấm quân, đai lưng có khóa đồng. Gã nhìn cô như nhìn một con ngựa người ta dắt tới chào bán, xem răng, xem móng. Rồi gã buông tay.
Người lính trên ghế nhếch mép, giọng thều thào:
– Cậu cả... để cô ấy làm đi. Tôi đau thấy ông bà ông vải rồi.
Sa gỡ vạt áo quấn tay ra. Vết đâm dài gần một đốt ngón tay, sâu, mép rách nham nhở vì cọc tre vót không đều. Không chạm vào gân lớn, máu chảy rỉ chứ không phun. Cô thở ra một hơi nhẹ mà không để ai nghe.
– Anh tên gì?
– Sẻ. Cai Sẻ. Cô cứ gọi thằng Sẻ.
– Anh Sẻ, tôi rửa vết thương bằng nước muối nóng, đau lắm, anh đừng giật tay. Anh giật là tôi rửa lại từ đầu. – Cô quay sang gã cấm quân. – Anh giữ vai anh ấy. Đè xuống, đừng nhẹ tay vì thương. Thương thì để mai.
Cốm bưng nồi nước ra, hơi bốc nghi ngút. Sa nhúng miếng vải sạch, vắt bớt, rồi đè thẳng vào vết thương. Cai Sẻ rống lên một tiếng như trâu bị cắt tiết, hai chân đạp cái ghế dài rung bần bật. Gã cấm quân đè vai anh ta xuống, mặt không đổi sắc, nhưng Sa thấy những đường gân ở mu bàn tay gã nổi lên.
Cô rửa ba lượt, gắp ra hai mảnh dăm tre nhỏ như sợi tóc. Rồi cô mở cái hộp gỗ mun nhỏ của mẹ để lại, lấy ra cây kim cong và cuộn chỉ tơ đã luộc sôi phơi khô từ chiều.
– Anh định khâu tay người như khâu áo à? – Gã cấm quân hỏi.
– Khâu áo thì tôi khâu xấu lắm. Khâu người thì cha tôi dạy từ năm mười hai tuổi. – Sa xỏ chỉ, không ngẩng lên. – Anh Sẻ, bảy mũi. Anh đếm giùm tôi.
Cai Sẻ đếm. Đến mũi thứ ba thì anh ta không đếm nữa mà chửi, chửi con ngựa, chửi cái cọc, chửi luôn ông Đội trưởng đã sai dựng hàng rào ở chỗ ấy. Đến mũi thứ năm thì giọng nhỏ dần. Đến mũi thứ bảy, anh ta nói:
– Bảy. Cô khâu đẹp hơn mẹ tôi vá áo.
– Mẹ anh mà nghe được câu đó là đánh anh đấy.
Lần đầu tiên trong đêm, gã cấm quân bật ra một tiếng gì đó giống như cười, rồi vội nuốt lại như nuốt một miếng cơm còn nóng.
Sa đắp lên vết khâu một lớp lá giã, quấn băng vải. Rồi cô ra quầy, bốc thuốc. Hai thang uống cho đỡ sốt, một gói bột đắp để thay băng ngày mai. Ngón tay cô gấp giấy bản thành hình chữ nhật vuông vức, rồi lấy một sợi lạt mỏng, quấn hai vòng. Cô thắt lại thành một cái nút có hai cánh xòe ra hai bên và hai cái đuôi thả xuống, nhìn như con bướm đậu trên gói thuốc.
Gã cấm quân cầm gói thuốc lên, xoay xoay trong tay.
– Buộc gì cầu kỳ thế này?
– Nút của nhà tôi. Ai cầm gói thuốc buộc nút này là biết thuốc của Bảo Hòa Đường, không phải thuốc của hiệu khác đem trà trộn. – Sa chỉ vào hai cái đuôi. – Mở thì kéo đuôi bên trái. Một cái là bung.
Gã không nghe hết câu. Gã đã cầm cái đuôi bên phải mà giật. Nút con bướm rút lại một cái, hai cánh xẹp xuống, thắt chặt cứng thành một cục nhỏ bằng hạt đỗ.
Sa nhìn gói thuốc, rồi nhìn gã.
– Tôi bảo bên trái.
– Cô chưa nói xong thì tôi đã kéo rồi.
– Thì anh đợi tôi nói xong. – Cô giật lại gói thuốc, lấy cái kim gẩy gẩy cục nút cho lỏng ra. – Kéo bên phải thì nó thắt lại. Cha tôi nghĩ ra cái nút này để lúc gánh thuốc đi đường xa, xóc thế nào cũng không bung. Người không biết mà kéo bậy thì phải lấy dao mà cắt.
Cô buộc lại cái khác, đặt vào tay gã, giữ lấy cổ tay gã một chút cho gã nhìn.
– Bên trái. Bên tay cầm đũa của anh là bên phải, thì kéo bên ngược lại. Nhớ chưa?
Gã cấm quân nhìn bàn tay cô đặt trên cổ tay mình, rồi rút tay về, hơi nhanh hơn cần thiết.
– Nhớ rồi.
Gã móc trong túi ra một nén bạc nhỏ, đặt lên quầy. Sa nhìn nén bạc, rồi lấy cái cân tiểu ly ra cân. Một lạng hai đồng cân. Cô mở ngăn kéo, đếm ra bốn xâu tiền đồng, đẩy về phía gã.
– Tiền thuốc với tiền khâu là hai tiền rưỡi. Đây là tiền thối. Còn cái then cửa anh đạp gãy thì tôi tính năm mươi đồng, trừ vào rồi.
– Cô không cần thối.
– Hiệu thuốc nhà tôi không nhận bố thí. Anh cầm về mà mua cho anh Sẻ cái gì ăn cho lại sức. Ba ngày nữa đem anh ấy lại cho cha tôi coi vết khâu.
Gã cấm quân ngần ngừ một lúc, rồi nhét bốn xâu tiền vào ngực áo. Gã dìu Cai Sẻ đứng dậy. Người lính lảo đảo, tựa vào vai gã.
– Cậu cả, – Cai Sẻ nói trong lúc đi ra cửa, – về mà tướng quân biết mình phá hàng rào doanh trại thì...
– Im. – Gã cắt ngang.
Cửa khép. Tiếng chân hai người lõm bõm trên đường lát đá rồi tắt dần trong mưa. Sa đứng nhìn cánh cửa mất then một lúc lâu, rồi mới quay lại nhặt cái chiếu bạch truật đã bị giẫm nát. Ba cân. Cô tiếc đứt ruột.
– Chị Sa, – Cốm gọi. – Ông ấy bỏ quên cái này.
Thằng bé giơ lên một cái bao tay da, loại bao tay lính cung dùng để kéo dây, da trâu thuộc mềm, đã sờn ở chỗ ngón cái. Sa cầm lấy, lật mặt trong ra. Trên miếng da lót, ai đó đã thêu bằng chỉ đỏ một chữ nhỏ, đường thêu đã bạc màu.
Chữ Mai.
Cô cầm cái bao tay, nhìn chữ ấy, và không hiểu sao tay cô lạnh đi như vừa nhúng vào nước giếng.
Phố Hòe ở kinh thành Ngọc Đô có một trăm lẻ tám nóc nhà, và nóc nhà nào cũng biết chuyện con gái ông lang Dương có hôn ước với cậu cả nhà tướng quân Mai. Người ta biết, nhưng không ai còn tin. Mười lăm năm rồi, nhà họ Mai chưa một lần cho người sang hỏi han. Tướng quân Mai Đình Thạc giữ ải Ô Lâm tận biên giới tây, cả năm mới về kinh một lần vào dịp đại triều, mà về thì ở phủ đệ bên phường Cửa Bắc, chưa từng ghé qua phố Hòe.
Mấy bà bán xôi đầu ngõ nói với nhau, tưởng Sa không nghe: "Quan to người ta hứa lúc đang sốt, sống rồi thì quên. Con bé đẹp thế mà giữ cái hôn thư cũ làm gì cho lỡ thì."
Sa không giữ. Cái hôn thư nằm trong rương của cha, cô chỉ được xem một lần năm mười tuổi. Cô nhớ chữ trên giấy đẹp, nét đậm như người ta khắc dao, và nhớ cha bảo: "Tướng quân viết bằng tay mình, không nhờ thư lại. Ông ấy coi trọng nhà mình lắm." Sa mười tuổi gật đầu, rồi quên. Cô có việc khác để nhớ: tên ba trăm vị thuốc, mạch phù mạch trầm, cách buộc nút con bướm cho đẹp và chặt.
Bây giờ cô mười bảy tuổi, cầm một cái bao tay có thêu chữ Mai, và nghĩ đến cái kiểu gã kia nhìn cô như xem răng ngựa.
– Chị Sa, – Cốm nói, – cái ông ấy là ai mà chị đứng đờ ra thế?
– Không biết. Đi ngủ đi. Sáng mai dậy sớm sửa cái then cửa.
Gần nửa đêm thì cha cô về. Ông Dương Khải Tế năm nay năm mươi hai tuổi, tóc đã bạc nửa đầu, dáng gầy, đi đâu cũng mang cái tráp thuốc bằng gỗ dâu đã lên nước bóng. Ông bước qua cửa, thấy cái then gãy, thấy vệt máu trên ghế dài con gái chưa kịp lau hết, nhưng không hỏi. Ông ngồi xuống ghế, đặt cái tráp lên đùi, và ngồi im như thế.
Sa rót cho cha một chén trà gừng.
– Nhà ông Hàn đỡ chưa cha?
– Ông Hàn khỏi rồi. – Ông cầm chén trà, không uống. – Cha không ở nhà ông Hàn. Đi được nửa đường thì có xe của phủ Thái úy đón. Thái úy mời cha qua.
Sa ngồi xuống chiếc ghế đối diện. Thái úy Ung Trọng Hoành là người quyền thế nhất triều sau Hoàng thượng. Phủ ông ta có thái y riêng, không bao giờ mời thầy lang ngoài phố.
– Ai trong phủ ốm hả cha?
– Không ai ốm. – Cha cô nói. – Thái úy hỏi cha có giữ thư từ cũ của tướng quân Mai không. Người ta đồn mười lăm năm nay cha với tướng quân vẫn gửi thư qua lại, tướng quân ốm gì cũng hỏi cha bài thuốc.
– Thì có. Cả một hòm. Mà Thái úy hỏi làm gì?
Ông Dương nhìn ngọn đèn. Ánh lửa lay lay trong chén trà.
– Ông ấy bảo muốn mượn xem. Ông ấy cũng có bệnh phong thấp, nghe nói tướng quân dùng một bài thuốc hay. – Ông đặt chén trà xuống bàn, vẫn chưa uống ngụm nào. – Cha bảo để cha tìm. Thư nhiều quá, lẫn lộn hết.
Sa biết cha. Cả đời ông chưa nói dối ai câu nào cho trôi chảy. Khi ông giấu chuyện gì, ông sẽ nói những câu ngắn, và nhìn đi chỗ khác.
– Cha, có chuyện gì không?
– Không có chuyện gì. – Ông đứng dậy. – Có chuyện này. Lúc cha về đến đầu phố thì gặp người nhà họ Mai đứng chờ ở gốc hòe. Tướng quân Mai được triệu về kinh gấp, đã đi gần hết đường, nội ngày mai là tới. Phu nhân với cậu cả đã ở kinh từ tháng Chạp. Sáng mai phu nhân sẽ sang nhà mình.
Sa ngồi thẳng người.
– Sang làm gì ạ?
Cha cô nhìn cô một lúc, rồi đưa tay vuốt mấy sợi tóc lòa xòa trên trán con gái, như hồi cô còn bé.
– Sang để con với cậu cả gặp mặt nhau. Mười lăm năm rồi, Sa à. Đến lúc rồi.
Ông đi vào buồng trong. Sa ngồi lại một mình bên bàn. Cái bao tay da vẫn nằm trong vạt áo cô. Cô lấy nó ra, lật chữ Mai lên dưới đèn, và nhớ lại tiếng người lính gọi "cậu cả", và tiếng gã kia gắt "Im".
Rồi cô nhớ cái nút con bướm thắt chặt cứng như hạt đỗ, vì gã không chịu nghe cô nói hết câu.
– Trời đất ơi, – cô nói một mình, và gục trán xuống mặt bàn còn thơm mùi bột hoài sơn.
— Hết chương 1 —
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe