AI Truyện
Nút con bướm ở hiệu thuốc phố Hòe

🏯 Cổ đại & cung đấu

Cửa Bắc mở lúc canh tư

Nút con bướm ở hiệu thuốc phố Hòe · Chương 18/21 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 18: Cửa Bắc mở lúc canh tư

Gói thuốc được ném qua bờ rào trại quân Ô Lâm vào lúc canh hai đêm mười bốn tháng Mười, và người lính gác suýt chút nữa đã đá nó xuống mương.

Hắn nhặt lên vì tò mò. Một gói giấy bản nhỏ, gấp vuông vức, buộc lạt. Hắn mang đến lều chỉ huy. Trong lều lúc ấy đang có ba người thức: Mai Viễn Chí, lão phó tướng Ma Đẩu, và cô lang đi theo Thái tử, người mà cả đạo quân đã quen gọi là cô Dương.

Chí cầm gói thuốc lên. Rồi gã đưa nó cho Sa, không nói gì.

Sa nhìn cái nút. Hai vòng. Hai cánh xòe đều nhau. Hai cái đuôi thả xuống, đuôi trái hơi dài hơn đuôi phải một chút, đúng như cha cô vẫn buộc, vì ông thuận tay phải nên lúc thắt bao giờ cũng kéo dư bên kia. Người buộc cái nút này không phải cha cô. Nét tay vụng hơn, hai cánh hơi cứng. Nhưng người ấy đã nhìn cha cô buộc rất nhiều lần, nhìn kỹ đến mức bắt chước được cả cái đuôi trái dài hơn.

Cô kéo đuôi trái. Nút bung ra.

Bên trong không có thuốc. Chỉ có một mảnh lụa vàng nhỏ bằng bàn tay, trên đó viết mấy chữ bằng mực son, nét run run như của người bệnh:

"Canh tư. Cửa Bắc. Đừng đốt thành."

Bên dưới không ký tên. Nhưng ở góc mảnh lụa có đóng một con dấu son nhỏ, hình vuông, chữ triện. Ma Đẩu cầm lên, soi dưới đèn, rồi lão ngồi thụp xuống ghế.

– Ấn riêng của Kỳ vương. – Lão nói. – Ấn hồi còn làm vương, trước khi lên ngôi. Ta đã thấy nó trên công văn hai mươi năm.

Chí nhìn Sa.

– Cô nghĩ sao?

Sa cầm sợi lạt lên. Cô cuộn nó quanh ngón tay.

– Người buộc nút này đã nhìn cha tôi buộc băng mỗi ngày, hai năm. – Cô nói. – Cha tôi rửa chân cho Kỳ vương mỗi sáng. Người của Ma đại nhân báo về như thế. Người nào ngồi yên hai năm nhìn một ông lang già quỳ dưới chân mình thắt nút băng, đến mức học được cả cái đuôi trái dài hơn đuôi phải, thì người ấy không định lừa con gái ông lang.

Chí im lặng một lúc lâu. Rồi gã đứng dậy, cầm lấy thanh kiếm dựng ở góc lều.

– Báo Điện hạ. – Gã nói. – Canh ba, năm trăm người theo tôi đến cửa Bắc. Không đuốc. Không trống. Ma đại nhân giữ đại quân, nếu đến canh năm không có tin của tôi thì cứ đánh như kế cũ.

– Nếu là bẫy? – Ma Đẩu hỏi.

– Thì mất năm trăm người với một thằng con phản tặc. – Chí nói. – Đại quân còn nguyên.

Sa đứng dậy theo.

– Tôi đi.

Chí quay lại. Gã nhìn cô. Gã mở miệng, rồi ngậm lại. Rồi gã nói:

– Cô nói hết đi.

– Nếu cửa mở thật, – Sa nói, – thì sau cửa sẽ có người bị thương. Lính của ta, lính của Thái úy, dân trong thành. Và người duy nhất ở trong thành biết cha tôi ở đâu là người đã viết mảnh lụa này.

Chí gật đầu.

– Đi sau tôi. Cách mười bước. Có chuyện gì thì chạy về phía trại, đừng ngoái lại.

Đêm mười bốn tháng Mười, trăng gần tròn, nhưng mây dày che kín. Năm trăm người lính Ô Lâm đi trong im lặng qua những cánh đồng lúa đã gặt, rạ khô xào xạc dưới chân. Kinh thành Ngọc Đô hiện ra trước mặt, đen sẫm, tường thành cao như một dãy núi nhỏ. Trên tường có ánh đuốc lập lòe, có bóng lính đi lại.

Sa đi sau Chí mười bước, cái tráp thuốc trên lưng. Cô nghĩ đến lần cuối cùng cô thấy bức tường này, từ mũi thuyền củi, hai năm trước, khi cột lửa đỏ bốc lên từ phố Hòe.

Canh tư. Họ nằm rạp trong rạ khô, cách cửa Bắc hai trăm bước. Chờ.

Một khắc. Hai khắc. Không có gì. Bên cạnh Chí, Cai Sẻ thì thào: "Cậu cả..."

Rồi có tiếng kẽo kẹt.

Tiếng gỗ nghiến trên trục sắt, chậm, nặng, như một con trâu già thở dài. Cánh cửa Bắc, cánh cửa lim dày một gang tay bịt đồng, từ từ mở ra một khe. Rồi rộng hơn. Rồi rộng đủ cho bốn con ngựa đi song song.

Trong khung cửa, dưới ánh một ngọn đèn lồng duy nhất, có một người đứng.

Không phải lính. Một người đàn ông gầy gò, mặc áo vải thô màu nâu, đầu không đội mũ, tóc búi lỏng. Chân trái quấn băng trắng, đi khập khiễng. Hai bên ông ta, hai người lính Cấm vệ cầm giáo, nhưng mũi giáo chúc xuống đất.

Chí đứng dậy khỏi rạ. Gã bước tới, một mình, tay đặt trên chuôi kiếm nhưng không rút. Năm trăm người sau lưng gã vẫn nằm im.

Người đàn ông trong khung cửa nhìn gã.

– Con trai Mai Đình Thạc. – Ông ta nói. Giọng khàn, mệt. – Ngươi giống cha ngươi.

– Kỳ vương.

– Không còn Kỳ vương nào cả. Cũng không có vua nào. – Người ấy nói. – Chỉ có một người đàn ông bốn mươi tám tuổi bị tiêu khát. – Ông ta nhìn qua vai Chí, về phía những bóng người nằm trong rạ. – Thái tử có ở đây không?

– Điện hạ ở đại doanh.

– Tốt. Thằng cháu ta mà đến đây thì ta không dám nhìn mặt. – Kỳ vương cười một tiếng khô khốc. – Ung Trọng Hoành rời thành lúc canh một, qua cửa Đông, mang theo Đới Khâm, ba mươi thân binh, và gã thư lại họ Phùng. Hắn biết đêm nay ta mở cửa. Hắn không cản. Hắn chỉ mang theo thứ hắn cần để mặc cả. – Ông ta quay sang nhìn thẳng vào Sa, đang đứng cách Chí mười bước. – Cô là con gái ông lang.

Sa bước lên.

– Dạ.

– Cha cô ở trang trại của Ung ngoài bãi Hươu Trắng. Hai mươi dặm về phía đông. Hắn đưa đi từ đầu tháng Chín. – Kỳ vương nói. – Ta không cứu được. Ta không có quân nào của ta. Quân Cấm vệ là quân của Ung. Đêm nay, hai người lính này mở cửa cho ta vì ta hứa tha tội cho họ, mà ta thì chẳng còn quyền tha tội cho ai. – Ông ta nhìn xuống bàn chân quấn băng của mình. – Cha cô buộc băng cho ta mỗi sáng. Hai năm. Ông ấy không bao giờ trả lời câu ta hỏi, câu ta có phải là vua thật không. Đến hôm ông ấy bị bắt đi, ta mới hiểu ông ấy đã trả lời rồi. Ông ấy trả lời bằng cách rửa chân cho ta như rửa chân cho bất kỳ một ông già nào bị loét chân.

– Bệ... – Sa bắt đầu, rồi dừng.

– Đừng gọi thế. – Kỳ vương nói. – Ông ấy bảo vết loét này mười ngày nữa sẽ lành, nếu ta không ăn bánh đậu xanh. Ta không ăn bánh đậu xanh nữa. Ta muốn sống đến hôm nó lành, để biết ông ấy có nói đúng không.

Ông ta bước ra khỏi khung cửa, khập khiễng, về phía Chí. Rồi ông ta chìa hai cổ tay ra.

– Trói đi. Cho đúng lễ.

Chí nhìn hai cổ tay gầy guộc ấy rất lâu. Rồi gã cởi chiếc áo choàng của mình, khoác lên vai Kỳ vương.

– Đêm lạnh. – Gã nói. – Điện hạ sẽ quyết chuyện trói hay không.

Đến khi trời sáng, năm trăm lính Ô Lâm đã giữ xong cửa Bắc, cửa Tây, hoàng thành. Quân Cấm vệ trong thành phần lớn buông giáo. Chỉ có một toán ở phủ Thái úy cố giữ cổng, bắn tên ra, làm bị thương mười một người, rồi cũng mở cổng khi thấy lá cờ Đông cung kéo lên trên lầu Cửa Ngọ. Dân phố Hòe, phố Hàng Bè, phường Cửa Bắc đứng ở cửa nhìn ra, không ai reo hò, không ai chạy trốn, chỉ đứng nhìn, như người ta nhìn trời sau một trận bão dài.

Sa dựng trại thương ở sân chợ Hòe, ngay dưới gốc cây hòe ba trăm tuổi đầu phố. Mười một người lính trúng tên. Hai người dân bị ngựa giẫm. Một ông lão trẹo chân vì chạy ra đầu ngõ xem lính. Cô rửa, khâu, bó, nắn. Bà bán xôi đầu ngõ, giờ đã tóc bạc trắng, nhận ra cô, đứng nhìn một lúc lâu, rồi lặng lẽ đi về, lát sau bưng ra một nồi nước sôi.

Bảo Hòa Đường chỉ còn là một nền đất cháy đen, cỏ mọc lên giữa những viên gạch vỡ. Cái tủ gỗ mít trăm ngăn, cái gác phơi thuốc, cái bếp ba ông đầu rau, không còn gì. Chỉ có bụi hoa sói ở góc vườn sau, không ai chăm, vẫn sống, đã lan ra thành một khóm to gấp đôi.

Lúc trời đứng bóng, có một quãng nghỉ giữa hai người bệnh, Sa đi vào cái nền đất cháy ấy. Cô không biết mình vào tìm gì. Cô đi chậm, giẫm lên những viên gạch vỡ, đến chỗ ngày xưa là gian trong. Chí đi theo sau cô, cách ba bước, như lần đầu ở vườn thuốc. Gã cúi xuống bới đám tro ở góc tường, rồi nhặt lên một mảnh gỗ cháy sém, to bằng bàn tay. Gã thổi tro, lau bằng tay áo, rồi đưa cho cô.

Một mặt ngăn kéo bằng gỗ mít. Lửa đã ăn mất một nửa, nhưng nửa còn lại vẫn đọc được hai chữ viết bằng mực nho, nét mảnh và tròn. "Đương quy".

Chữ của mẹ cô. Cái ngăn kéo mà Đới Khâm đã dừng tay trên đó, cái buổi sáng mùng bảy tháng Ba, khi ông ta dặn cô nên đi đường lớn.

Sa cầm mảnh gỗ, không nói gì. Chí cũng không nói gì. Gã đứng bên cạnh cô cho đến khi một người lính trẻ chạy vào gọi, bảo có người bị thương mới đến. Sa quay đi, suýt nữa thì cất tiếng gọi Cốm đun nước, rồi mới nhớ ra thằng bé đang ở cách đây hơn hai mươi ngày đường sông.

Sa khâu xong mũi cuối cùng cho người lính thứ mười một thì có một người ngựa phi tới, dừng lại trước trại thương. Một tên thân binh của Thái úy Ung, tay không cầm vũ khí, giơ cao một lá cờ trắng.

– Thái úy gửi lời. – Hắn nói, to, cho cả sân chợ nghe. – Thái úy muốn gặp Thái tử, bàn chuyện. Giờ Ngọ ngày mai, ở bãi Hươu Trắng. Thái tử đến, Thái úy trả người. Thái tử không đến, Thái úy không trả. – Hắn nhìn quanh, rồi dừng mắt ở Sa. – Thái úy dặn thêm: người con gái của ông lang cũng phải đến. Thái úy bảo, ông lang cứ hỏi mãi về con gái.

— Hết chương 18 —

Mục lục Nút con bướm ở hiệu thuốc phố Hòe

  1. 1Gói thuốc buộc nút con bướm11 phút
  2. 2Hôn thư mười lăm năm10 phút đọc
  3. 3Con dấu hổ đồng9 phút đọc
  4. 4Lời dặn trong ngục10 phút đọc
  5. 5Ba năm9 phút đọc
  6. 6Chuông tang ở Ngọc Đô9 phút đọc
  7. 7Cửa sau hiệu thuốc10 phút đọc
  8. 8Hộp bạc dưới đáy rương10 phút đọc
  9. 9Nước lớn Nhạn Giang9 phút đọc
  10. 10Sạp thuốc dưới gốc gáo9 phút đọc
  11. 11Người lính tháo nút10 phút đọc
  12. 12Gói thuốc buộc ngược9 phút đọc
  13. 13Phiên chợ nước nổi9 phút đọc
  14. 14Nét chữ Tâm9 phút đọc
  15. 15Ghe giấy lúc nửa đêm11 phút đọc
  16. 16Đường muối lên núi9 phút đọc
  17. 17Thầy thuốc trong phủ Kỳ vương10 phút đọc
  18. 18Cửa Bắc mở lúc canh tư9 phút đọc
  19. 19Bãi săn Hươu Trắng9 phút đọc
  20. 20Phiên xử lại9 phút đọc
  21. 21Kéo đuôi bên trái9 phút đọc

Về truyện này

Nút con bướm ở hiệu thuốc phố Hòe là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →