AI Truyện
Nút con bướm ở hiệu thuốc phố Hòe

🏯 Cổ đại & cung đấu

Nước lớn Nhạn Giang

Nút con bướm ở hiệu thuốc phố Hòe · Chương 9/21 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 9: Nước lớn Nhạn Giang

Ngày thứ bảy trên sông, Thái tử sốt đến mức gọi tên mẹ.

Không phải gọi Mẫu hậu. Gọi "mẹ ơi", như một đứa trẻ ở xóm chài, giọng đứt quãng, khàn đặc, trong hang củi tối om giữa khoang thuyền. Ông già Ngạc ôm lấy đầu anh ta, vừa lau mồ hôi vừa khóc không thành tiếng.

Sa bò vào hang củi, mang theo bát thuốc. Bảy ngày nay cô không ngủ quá hai canh một đêm. Cô đã dùng hết thuốc hạ sốt mang theo, đã châm kim, đã cạo gió, đã đắp khăn lạnh. Cơn sốt lui được một ngày lại lên. Phổi bên phải vẫn có tiếng rít. Cô biết đây không phải sốt cảm thường. Đây là thứ bệnh phổi người ta mang theo từ nhỏ, cứ trở trời là lên, và sau một đêm chạy trốn dưới mưa, nằm trên gác phơi đầy bụi thuốc, nó đã bùng ra.

– Điện hạ, uống thuốc.

Thái tử mở mắt, nhìn cô mà không nhận ra cô. Rồi ánh mắt anh ta trong lại một chút.

– Cô lang. – Anh ta nói. – Đừng gọi Điện hạ. Trên thuyền củi không có Điện hạ.

– Thế gọi là gì?

– Gọi là anh Hựu. Như lúc đầu.

Cô đỡ đầu anh ta, đút từng thìa. Bên ngoài, mưa đập trên mui lá cọ lộp độp. Mùa nước lớn tháng Chín, sông Nhạn Giang đỏ như máu cua, cuồn cuộn kéo theo những thân cây, những đám bèo, có khi cả một xác trâu trương phềnh. Cai Sẻ với người lính còn lại cầm sào đứng ở mũi và lái, mắt không rời mặt nước.

Cốm ngồi ở đầu mũi, nhóm cái bếp lò đất nhỏ, đun nước. Thằng bé không nói nhiều như trước nữa. Từ cái đêm nhìn thấy lửa ở phố Hòe, nó đã thôi hỏi "chị Sa, kia có phải".

Sa cũng không nói. Cô không cho phép mình nghĩ. Cô có một người bệnh để chữa. Cô chữa.

Đến ngày thứ chín, thuyền tới trạm Hạc Khẩu, chỗ con sông thắt lại giữa hai vách đá, triều đình đặt một trạm xét thuyền bè từ bao đời nay. Cai Sẻ từ mũi thuyền bò vào khoang, mặt xám ngoét.

– Có lính áo đỏ ở trạm. Người của Thái úy. Họ bắt mọi thuyền cập vào, lục từng khoang. Thuyền trước mình họ dỡ sạch cả hàng ra bãi.

Ông già Ngạc run lên. Sa nhìn đống củi. Một đống củi thì lục được. Dỡ ra là thấy.

– Còn bao lâu đến lượt mình?

– Bốn thuyền nữa. Chừng nửa canh giờ.

Sa mở tay nải thuốc. Cô bới tìm một lúc, rồi rút ra một gói giấy nhỏ, buộc nút con bướm, kéo đuôi bên trái. Trong gói là những mảnh gỗ màu đỏ thẫm, vụn như mùn cưa. Gỗ vang. Người ta dùng để nhuộm, mà thầy thuốc cũng dùng để chữa bầm tím. Cô bỏ vào cái nồi đất nhỏ, đổ vào một chút nước, đặt lên bếp lò của Cốm, quạt cho sôi.

– Cô làm gì thế? – Cai Sẻ hỏi.

– Anh có biết lính sợ cái gì nhất không?

Cai Sẻ nhìn cô.

– Chết.

– Không. Lính không sợ chết. Lính sợ chết kiểu chết không ai thấy, không ai nhớ, phải đốt cả xác. – Sa nhấc nồi xuống. Nước vang đã sẫm lại, đỏ như máu. – Đậu mùa.

Cô dùng cái tăm tre nhúng vào nước vang, chấm lên mặt Thái tử. Từng chấm nhỏ, dày đặc, ở trán, ở má, ở cằm. Cô vạch áo anh ta ra, chấm lên ngực, lên cánh tay. Những chấm đỏ thẫm trên làn da trắng bệch vì sốt, nổi lên như những nốt ban vừa mọc. Cô lấy một chút bột hoạt thạch trộn với nước, chấm lên giữa vài nốt, cho trắng đục như nốt đang mưng mủ.

Thái tử nằm im cho cô chấm. Anh ta nhìn cô bằng đôi mắt sốt.

– Cô lang, cô học cái này ở đâu?

– Không học. – Sa nói. – Tôi mới nghĩ ra.

Cô quay sang Cốm.

– Cốm, lúc lính lên thuyền, em ho. Ho cho to. Ho như sắp chết.

– Em ho được. – Cốm nói, và lần đầu tiên sau chín ngày, khóe miệng thằng bé nhếch lên một chút.

Đến lượt thuyền củi cập trạm. Ba tên lính áo đỏ nhảy lên mạn, giáo trong tay. Tên đi đầu chọc giáo vào đống củi.

– Dỡ ra!

– Quan ơi, – Sa bước ra từ trong khoang, mặt quấn khăn kín chỉ chừa hai con mắt, giọng run run, – quan dỡ thì dỡ, nhưng quan đứng xa người bệnh giùm. Em trai con nó lên đậu từ hôm qua.

Tên lính khựng lại.

– Đậu gì?

Cốm, nằm co ở góc khoang, ho lên một tràng, ho đến mức nôn khan, ho đến mức người nghe cũng thấy đau họng. Rồi trong hang củi, Thái tử, không cần ai bảo, cũng ho. Tiếng ho phổi thật, sâu, rít lên.

Sa vạch một mảng củi ra. Ánh sáng xám của buổi chiều mưa rọi vào hang, rọi lên khuôn mặt chi chít những nốt đỏ thẫm, những nốt trắng đục.

Ba tên lính lùi lại cùng một lúc như bị ai đẩy. Tên đi đầu nhảy khỏi mạn thuyền, suýt rơi xuống nước.

– Đậu mùa! Đi! Đi ngay! Đừng có cập vào đây!

– Quan ơi, cho con mua thuốc ở trạm...

– Đi! – Tên lính vung giáo lên. – Đi không tao đốt cả thuyền!

Cai Sẻ chống sào. Thuyền củi trôi ra giữa dòng, qua khỏi trạm Hạc Khẩu, không ai dám đuổi theo. Phía sau, Sa nghe tiếng tên lính hét với đồng bọn: "Rửa tay! Rửa tay bằng rượu!"

Khi trạm đã khuất sau vách đá, Sa ngồi phịch xuống sàn khoang. Lúc ấy cô mới thấy hai bàn tay mình run, run đến mức không cầm nổi cái tăm tre.

Thái tử nhìn cô từ trong hang củi, mặt vẫn chi chít những chấm đỏ, và anh ta cười, lần đầu tiên từ khi cô gặp anh ta. Một cái cười mệt mỏi, méo mó, nhưng là cười thật.

– Cô lang, – anh ta nói, – nếu một ngày ta còn ngồi được ở chỗ của ta, ta sẽ phong cô làm Thái y viện sứ.

– Tôi không muốn làm Thái y viện sứ. – Sa nói. – Tôi muốn về nhà.

Cái cười tắt trên mặt anh ta.

Đêm ấy, khi Thái tử đã hạ sốt, nằm ngủ yên lần đầu sau mười ngày, Sa ngồi ở đầu mũi thuyền một mình, nhìn mặt sông đen. Thái tử bò ra, ngồi xuống cạnh cô, quấn chăn. Ông già Ngạc định ngăn, anh ta xua tay.

– Cha cô, – anh ta nói, – ta nghe hết đêm hôm ấy, trên gác phơi.

Sa không đáp.

– Ta học luật từ năm tám tuổi. – Anh ta nói. – Luật nói làm chứng gian thì xử bằng tội của người bị hại. Mai tướng quân bị xử tội chết, vậy kẻ làm chứng gian cũng đáng tội chết. – Anh ta ho khẽ. – Nhưng luật cũng nói kẻ bị ép, bị dọa, kẻ vì cứu mạng người thân mà phạm tội, thì xét giảm. Luật của tổ tiên ta viết hai câu ấy cách nhau có ba dòng. Ta đọc hai câu ấy cả trăm lần, chưa bao giờ hiểu vì sao người viết lại đặt chúng gần nhau như thế. Đêm hôm ấy, ngồi trên gác nghe cha cô nói, ta mới hiểu.

– Anh Chí không hiểu.

– Mai Viễn Chí mất cha. Người mất cha không đọc luật. – Thái tử nói. – Cho nó thời gian.

Hai mươi ngày sau khi rời bến Vạn Thọ, thuyền củi rẽ khỏi dòng chính Nhạn Giang, vào một nhánh sông nhỏ chảy về phía nam, nước trong hơn, hai bên bờ dừa nước mọc dày như vách. Thêm một ngày nữa, sông mở ra thành một cái vàm rộng, nơi ba con rạch đổ vào. Trên mặt nước, hàng trăm chiếc ghe xuồng đậu san sát, chở bí, chở khóm, chở dừa, chở khoai, chở gà vịt, trên mỗi ghe dựng một cây sào cao treo thứ hàng ghe ấy bán. Dọc bờ là một dãy nhà sàn mái lá, chân cột cắm xuống nước. Giữa vàm, một cây gáo cổ thụ tỏa tán xanh rộng như cái nong khổng lồ.

– Vàm Lác. – Cai Sẻ nói, và giọng anh ta khác hẳn, mềm ra như người về tới nhà.

Bà Tư Ốc, dì ruột của Cai Sẻ, có một cái quán nước nhỏ dưới gốc gáo, bán nước chè xanh, bánh tét, khoai lang luộc. Bà năm mươi lăm tuổi, góa chồng, răng nhuộm đen bóng, đeo đôi bông tai vàng nhỏ xíu, và câu đầu tiên bà nói khi thấy thằng cháu dẫn về một đám người lạ là:

– Mày đi lính bảy năm không gửi về một đồng, bây giờ dắt về một thằng ho sù sụ, một ông già không râu, một con nhỏ với một thằng nhóc. Mày tính để tao nuôi cả bầy à?

– Dì Tư...

– Vô nhà. – Bà nói. – Ướt hết rồi kìa. Tao đi nấu cháo.

Họ ở lại Vàm Lác. Thái tử thành thầy đồ Hựu, người ở phương bắc xuống, ở nhờ nhà bà Tư Ốc, dạy chữ cho mấy đứa con nít trong xóm. Ông già Ngạc thành ông chú họ đi theo chăm cháu. Cai Sẻ chờ khi Thái tử đủ sức đi đường núi sẽ dẫn lên Ô Lâm, nhưng bệnh phổi của anh ta cứ dằng dai, hết đợt này lại đến đợt khác. Sa với Cốm thuê một gian nhà sàn nhỏ cạnh quán bà Tư, cô bày một cái sạp thuốc dưới gốc gáo, ngay cạnh quán nước.

Sa không viết thư về kinh. Không ai dám viết. Cô chờ tin tức theo những chiếc ghe từ miệt trên xuống.

Tin tức đến vào một buổi chiều cuối tháng Mười Một, trên một chiếc ghe chở muối. Một tên lính phủ đi nhờ ghe xuống, đóng một tờ giấy vàng lên thân cây gáo, rồi đứng đó, oang oang đọc to cho cả chợ nghe, vì ở Vàm Lác không mấy ai biết chữ.

"Truy nã phản tặc Mai Viễn Chí, con của tội nhân Mai Đình Thạc, trốn lính thú, phá cửa thành, giúp kẻ mưu nghịch. Ai bắt được thưởng năm trăm lạng."

Đọc xong, tên lính khạc một bãi nước trầu, cười hề hề:

– Năm trăm lạng mà chẳng ai lĩnh được. Ở trên nguồn người ta đồn thằng ấy bị lính Thái úy đuổi tới đèo Ba Khoanh, trúng tên rơi xuống vực. Vực ấy sâu cả trăm trượng, đá nhọn như răng cưa. Xác trôi theo suối, chẳng ai vớt được.

Sa đang buộc một gói thuốc. Ngón tay cô quấn vòng thứ nhất, vòng thứ hai. Rồi ngón tay cô dừng lại.

Cái nút con bướm trên gói thuốc ấy, cô không bao giờ buộc xong.

— Hết chương 9 —

Mục lục Nút con bướm ở hiệu thuốc phố Hòe

  1. 1Gói thuốc buộc nút con bướm11 phút
  2. 2Hôn thư mười lăm năm10 phút đọc
  3. 3Con dấu hổ đồng9 phút đọc
  4. 4Lời dặn trong ngục10 phút đọc
  5. 5Ba năm9 phút đọc
  6. 6Chuông tang ở Ngọc Đô9 phút đọc
  7. 7Cửa sau hiệu thuốc10 phút đọc
  8. 8Hộp bạc dưới đáy rương10 phút đọc
  9. 9Nước lớn Nhạn Giang9 phút đọc
  10. 10Sạp thuốc dưới gốc gáo9 phút đọc
  11. 11Người lính tháo nút10 phút đọc
  12. 12Gói thuốc buộc ngược9 phút đọc
  13. 13Phiên chợ nước nổi9 phút đọc
  14. 14Nét chữ Tâm9 phút đọc
  15. 15Ghe giấy lúc nửa đêm11 phút đọc
  16. 16Đường muối lên núi9 phút đọc
  17. 17Thầy thuốc trong phủ Kỳ vương10 phút đọc
  18. 18Cửa Bắc mở lúc canh tư9 phút đọc
  19. 19Bãi săn Hươu Trắng9 phút đọc
  20. 20Phiên xử lại9 phút đọc
  21. 21Kéo đuôi bên trái9 phút đọc

Về truyện này

Nút con bướm ở hiệu thuốc phố Hòe là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →