AI Truyện
Nút con bướm ở hiệu thuốc phố Hòe

🏯 Cổ đại & cung đấu

Nét chữ Tâm

Nút con bướm ở hiệu thuốc phố Hòe · Chương 14/21 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 14: Nét chữ Tâm

– Chữ cha tôi. – Chí nói lần nữa, và lần này gã quay sang nhìn Sa. – Cô có thấy không? Nét móc chữ Tâm. Cả triều chỉ có một người viết như thế.

Sa đứng dưới tấm bảng công đức, ngẩng lên. Mặt trời đã lặn, chỉ còn một vệt sáng đỏ quạch ở chân trời phía tây, rọi xiên lên những chữ đen to bằng nắm tay. Chữ "Tâm" nằm ở dòng thứ ba. Ba chấm nối liền một nét, chấm cuối hất lên.

– Ông Phùng viết tấm bảng này. – Cô nói. – Ông hương cả nhờ.

– Phùng. – Chí nhắc lại. Gã nhìn lên tấm bảng, rồi nhìn cô, và Sa thấy trong mắt gã có cái gì đó đang trồi lên từ một chỗ rất sâu. – Cô ơi, hôm tôi theo mẹ sang nhà cô. Mẹ tôi ngồi với cha cô ở gian trong. Mẹ tôi có nói gì về thư lại không?

Sa nhắm mắt lại. Cô thấy vườn thuốc tháng Hai, bụi hoa sói, cái cửa sổ gian trong để mở. Cô thấy một gã cấm quân đứng cách cô một bước, tay cầm chùm hoa sói bé như hạt tấm. Và cô nghe tiếng Mai phu nhân vọng ra, rõ từng chữ:

"Cậu thư lại họ Phùng ấy chữ đẹp lắm, viết giống chữ nhà tôi đến tám phần, đến tôi cũng nhầm. Có điều sang tháng Sáu thì cậu ta xin về quê."

Cô mở mắt ra.

– Họ Phùng. – Cô nói. – Mẹ anh nói họ Phùng.

Họ đứng dưới tấm bảng, không ai nói gì. Ở mấy cái lều dịch sau lưng, có tiếng một đứa bé khóc, tiếng một bà mẹ dỗ. Một con cò bay ngang qua mặt nước đục ngầu, chậm rãi, như không có gì xảy ra.

– Không được. – Sa nói. – Không thể chỉ vì một chữ. Phùng là họ thường. Cả nước có hàng nghìn người họ Phùng. Có khi ông ấy học thư pháp ở đâu đó, bắt chước một kiểu chữ đẹp. Có khi...

Cô dừng lại, vì cô nghe giọng mình đang nói nhanh, nói như cha cô nói khi ông giấu chuyện gì.

– Cô muốn nó không phải. – Chí nói. Gã không nói như trách. – Tôi hiểu. Ông ấy tốt với cô. Ông ấy mang tin cha cô về cho cô. Ông ấy gom gạo cứu cả cái chợ này. Sẻ kể hết với tôi rồi.

– Không phải vì thế.

– Thế thì vì sao?

Sa không đáp được.

– Chị Sa. – Có người gọi từ sau lưng. Cốm đứng đó, tay cầm cái ấm nước, mặt nhem nhuốc khói bếp. Thằng bé nhìn hai người, rồi nhìn lên tấm bảng. – Hai người nhìn cái gì vậy?

– Cốm. – Sa nói. – Ông Phùng dạy em viết chữ cả năm nay. Ông ấy dạy em viết chữ Tâm thế nào?

Cốm ngơ ngác.

– Ba chấm rời. Ông ấy bảo chấm thứ nhất hướng xuống, chấm thứ hai hướng vào, chấm thứ ba hướng lên, ba chấm như ba hạt đậu, không được dính nhau.

– Ông ấy có bao giờ viết nối liền không?

Thằng bé nghĩ một lúc. Rồi mặt nó thay đổi.

– Có một lần. Hồi tháng Giêng. Ông ấy viết chữ to lên tấm phên tre cho em tập theo. Ông ấy cầm cái bút lông lớn, viết chữ Tâm, mà viết ba chấm nối liền một nét, hất lên như vầy. – Cốm đưa ngón tay lên vẽ trong không khí, đúng cái nét móc ấy. – Viết xong ông ấy đứng nhìn một lúc, rồi lấy giẻ ướt xóa ngay. Ông ấy bảo viết sai, quen tay. Rồi viết lại ba chấm rời.

Chí quay sang nhìn Sa. Sa nhìn xuống đất.

– Viết chữ nhỏ, – Chí nói chậm rãi, – thì hắn viết theo tay hắn. Cầm bút lớn, viết chữ to, thì tay hắn nhớ cái nét đã tập ngày tập đêm. Thư gửi Khương Lô phải giả chữ cha tôi, mà cha tôi viết gì cũng chữ to.

Sa thò tay vào ngực áo. Cô lấy ra một tờ giấy đỏ đã cũ, gấp làm tư, mép sờn, nếp gấp đã mỏng như sắp rách. Cô mở nó ra, giơ lên cạnh tấm bảng công đức.

Hôn thư. Chữ của tướng quân Mai Đình Thạc, viết mười bảy năm trước, khi tay ông còn run sau trận sốt dịch. Dòng cuối có chữ "Tâm": ba chấm nối liền, chấm cuối hất lên.

Hai chữ "Tâm", một trên giấy đỏ cũ, một trên bảng gỗ mới, cách nhau mười bảy năm và cả nghìn dặm đường. Giống nhau như một cái bóng với cái người.

Chí nhìn tờ hôn thư. Gã không nhìn chữ "Tâm". Gã nhìn cả tờ giấy, nhìn những nếp gấp đã mỏng, nhìn cái mép sờn.

– Cô vẫn giữ. – Gã nói.

– Tôi bảo anh rồi. Anh muốn đốt thì đến Vàm Lác mà lấy.

Gã không đưa tay ra lấy.

Họ ngồi ở bậc đá sau đình, chỗ khuất, nơi nước dâng lên gần chạm chân. Trời đã tối hẳn. Cốm được sai đi gọi Cai Sẻ. Sa gấp tờ hôn thư lại, cất vào ngực áo.

– Nếu Phùng là thư lại của cha tôi, – Chí nói, – thì tất cả khớp lại. Tháng Ba năm ấy cha tôi gãy tay, bốn mươi ngày không cầm bút. Mọi thư từ thư lại viết. Ấn tín cha tôi để thư lại giữ, vì cha tôi không đóng dấu được. Cha tôi nói với cô trong ngục: có một lúc ông không giữ con dấu bên mình. Tháng Ba. Hắn có ấn, có chữ, có bốn mươi ngày. Hắn viết thư, đóng dấu, ghi ngày mười tám, rồi cất đi. Đến tháng Sáu thì hắn xin nghỉ. Mấy tháng sau, Thái úy Ung lôi lá thư ra, nhét vào người một tên thám tử Khương Lô đã chết.

– Vì sao? – Sa hỏi. – Tướng quân có làm gì hắn?

– Tôi không biết. – Chí nói. – Tôi ở biên ải. Tôi chưa từng thấy mặt hắn.

– Nhưng hắn chưa từng thấy mặt anh.

Họ nhìn nhau.

– Hắn biết tên anh. – Sa nói chậm. – Cả chợ này biết tên anh, trên tờ giấy vàng ở gốc gáo. Nhưng hắn không biết mặt anh.

Chí gật đầu.

– Cái ghe mũi nhọn, người đi ủng da. – Gã nói. – Sẻ kể rồi, Điện hạ cũng kể rồi. "Chưa chắc. Chờ thêm. Ta muốn thấy tận mắt." Hắn muốn thấy tận mắt cái gì?

– Thấy anh Hựu là ai. – Sa nói. – Hắn làm thư lại ở phủ Mai, chứ không phải ở Đông cung. Hắn chưa từng thấy mặt Thái tử. Người ta chỉ tả cho hắn: cao gầy, hay ho, đi với một lão già không râu. Ở Vàm Lác có thầy đồ Hựu. Nhưng thiên hạ có bao nhiêu thầy đồ ho? Hắn phải chắc.

– Cả năm nay hắn ghé chòi tre, nói chuyện sách vở.

– Hắn dò. Dò cách nói, cách ngồi, cách cầm chén trà, cách Điện hạ ngắt câu khi nói đến một chữ nào đó. – Sa nói, và cô nhớ lại những buổi chiều cô đi ngang chòi tre, nghe tiếng Phùng cười, tiếng thầy đồ Hựu đáp lại, thấy ông già Ngạc đứng sau vách nhìn theo lưng Phùng rất lâu. Cô thấy lạnh. – Mà tôi... tôi còn bảo anh Hựu nói chuyện với ông ấy cho khuây khỏa.

– Cô không biết.

– Tôi không muốn biết. – Sa nói. – Đó là cái khác. Cốm thấy cái ghe mũi nhọn từ tháng Giêng. Bảy tháng. Điện hạ bảo ông Ngạc canh, còn tôi thì để đó. Vì ông ấy tốt với tôi. Vì ông ấy mang tin cha tôi về. Vì cả chợ khen ông ấy. Vì tôi... – Cô dừng lại.

Chí không nói gì. Gã ngồi bên cạnh cô, cách cô một gang tay. Nước sông vỗ ì oạp dưới bậc đá.

– Ở bến Vạn Thọ, – gã nói, – cô chưa nói hết câu, tôi đã quay đi.

Sa quay sang nhìn gã.

– Hai năm nay, – gã nói, – tôi nghĩ mãi một điều. Nếu Đới Khâm đứng trước mặt tôi, mở quạt ra phe phẩy hai cái, và tôi nghĩ đến cô, thì tôi sẽ nói gì. Tôi nghĩ hai năm mà không trả lời được. Cô biết vì sao không?

– Vì sao?

– Vì tôi biết câu trả lời. Tôi chỉ không muốn nghe nó. – Gã nhìn xuống mặt nước. – Tôi không tha cho cha cô được. Chưa. Có khi không bao giờ. Nhưng tôi không còn ghét ông ấy nữa. Ghét ông ấy thì phải ghét luôn cả tôi.

Sa không trả lời. Cô đưa tay ra, đặt lên bàn tay gã đang nắm chặt trên đầu gối. Bàn tay gã to và ráp như vỏ cây, như cái đêm ở bến sông Hàng Bè. Gã không rút tay lại.

Có tiếng chân chạy dồn dập trên mặt sàn đình. Cai Sẻ chạy tới, Cốm chạy sau. Mặt Cai Sẻ tái mét dưới ánh đuốc.

– Cậu cả! Cô Dương! Chòi tre...

Chí đứng bật dậy.

– Điện hạ?

– Không có ai. – Cai Sẻ thở hổn hển. – Tôi chạy qua gọi, chòi trống trơn. Ông Ngạc nằm dưới sàn, sau tấm vách. Có người đánh vào gáy ông ấy.

Họ chạy. Chòi tre của thầy đồ Hựu cách đình hai trăm bước, đi trên những cây cầu khỉ bắc qua mặt nước. Ngọn đèn dầu trong chòi vẫn cháy. Cái chõng tre của Thái tử trống không, tấm chăn rơi dưới đất. Ông già Ngạc nằm ở góc, sau tấm vách tre, rên khẽ. Sa quỳ xuống, đỡ đầu ông. Không chảy máu, chỉ có một cục u sưng to sau gáy.

– Ông Ngạc. Ông Ngạc, nghe tôi không?

Ông già mở mắt. Ông nhìn cô, rồi nhìn quanh, rồi ông vùng dậy, nắm lấy tay áo Sa.

– Điện hạ... Điện hạ đâu?

– Ông nói đi. Ai đến?

– Ông Phùng. – Ông già nói, giọng run bắn. – Lúc chập tối. Ông ấy bảo trên ghe ông ấy vừa có một thầy thuốc giỏi ở kinh xuống, chuyên chữa bệnh phổi, chỉ ở lại một đêm. Ông ấy bảo cô lang bận lều dịch, không nhờ được, nên ông ấy đến đưa thầy đồ đi. Điện hạ ho cả tuần nay, Điện hạ tin ông ấy. Tôi định đi theo. Tôi vừa quay lưng lấy cái áo khoác cho Điện hạ thì...

Ông già sờ lên gáy mình, nhăn mặt.

Chí đứng ở cửa chòi, nhìn ra bến. Nước đen kịt. Không một ngọn đèn.

– Ghe của Phùng đậu ở đâu? – Gã hỏi.

– Bến đầu chợ. – Cai Sẻ nói. – Cạnh gian hàng giấy.

Họ nhìn về phía bến đầu chợ. Chỗ chiếc ghe mui gỗ sơn đen vẫn đậu suốt một năm nay, ngay cạnh gian hàng giấy mực, giờ chỉ còn mặt nước trống trơn, vài đám lục bình trôi lững lờ.

— Hết chương 14 —

Mục lục Nút con bướm ở hiệu thuốc phố Hòe

  1. 1Gói thuốc buộc nút con bướm11 phút
  2. 2Hôn thư mười lăm năm10 phút đọc
  3. 3Con dấu hổ đồng9 phút đọc
  4. 4Lời dặn trong ngục10 phút đọc
  5. 5Ba năm9 phút đọc
  6. 6Chuông tang ở Ngọc Đô9 phút đọc
  7. 7Cửa sau hiệu thuốc10 phút đọc
  8. 8Hộp bạc dưới đáy rương10 phút đọc
  9. 9Nước lớn Nhạn Giang9 phút đọc
  10. 10Sạp thuốc dưới gốc gáo9 phút đọc
  11. 11Người lính tháo nút10 phút đọc
  12. 12Gói thuốc buộc ngược9 phút đọc
  13. 13Phiên chợ nước nổi9 phút đọc
  14. 14Nét chữ Tâm9 phút đọc
  15. 15Ghe giấy lúc nửa đêm11 phút đọc
  16. 16Đường muối lên núi9 phút đọc
  17. 17Thầy thuốc trong phủ Kỳ vương10 phút đọc
  18. 18Cửa Bắc mở lúc canh tư9 phút đọc
  19. 19Bãi săn Hươu Trắng9 phút đọc
  20. 20Phiên xử lại9 phút đọc
  21. 21Kéo đuôi bên trái9 phút đọc

Về truyện này

Nút con bướm ở hiệu thuốc phố Hòe là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →