Chương 15: Ghe giấy lúc nửa đêm
– Ghe lớn mùa nước nổi không đi tắt được. – Bà Tư Ốc nói, đã đứng ở đầu cầu ván, tay cầm cây chèo, tóc búi vội, chân không. – Nó phải theo lòng rạch cái, vòng ra vàm Rạch Thơm. Xuồng nhỏ thì cắt ngang đồng. Đồng giờ ngập tới ngực người, xuồng chạy như trên sông.
– Bao lâu? – Chí hỏi.
– Ghe nó vòng mất một canh giờ rưỡi. Xuồng mình cắt đồng mất nửa canh. Nó đi được nửa canh giờ rồi. Mình còn kịp.
– Sao bà biết nó ra vàm Rạch Thơm?
Bà Tư nhìn gã như nhìn một thằng ngốc.
– Vì ở Vàm Lác chỉ có một đường ra sông cái. Cậu ở trên núi xuống, cậu biết đường núi. Tui sống ở đây năm mươi lăm năm, tui biết đường nước.
Sáu chiếc xuồng ba lá rời bến đầu chợ trong bóng tối. Bà Tư Ốc gõ cửa ba nhà, ba nhà gọi thêm ba nhà nữa. Người Vàm Lác không hỏi nhiều. Họ chỉ cần nghe "cô lang cần người" là cầm chèo. Mỗi xuồng hai người, một chèo mũi, một chèo lái. Cai Sẻ chèo chung xuồng với Chí. Cốm ở lại với ông già Ngạc.
Xuồng lướt qua những rặng tre ngập đến ngọn, qua những mái nhà nhô lên khỏi mặt nước như lưng rùa, qua những cánh đồng giờ chỉ là một biển nước đen, phẳng lì, lấp lánh ánh sao. Không ai thắp đèn. Bà Tư Ốc chèo đầu, mắt nhìn những ngọn cây, những cột đáy, như người đọc chữ.
Sa ngồi ở mũi một chiếc xuồng nhỏ, một mình, hai tay cầm chèo. Dưới chân cô là cái tráp thuốc gỗ dâu mà cô đã mang từ phố Hòe xuống, và một cái đèn lồng giấy chưa thắp.
– Cô không đi. – Chí đã nói thế lúc ở bến.
– Tôi đi. Anh lại kéo đuôi bên phải rồi.
– Lần này tôi không kéo bên nào cả. – Gã nói. – Tôi nghe. Cô nói hết đi.
Và cô đã nói hết. Phùng có người, chắc chắn có. Nếu mười hai người cầm sào xông lên ghe của hắn trong bóng tối, hắn sẽ dí dao vào cổ Điện hạ trước khi ai kịp đặt chân lên mạn. Nhưng nếu một người con gái chèo xuồng đến, thắp đèn, một mình, gọi tên hắn, thì hắn sẽ không làm thế. Không ngay. Hắn sẽ muốn nghe cô nói gì.
– Vì sao cô chắc? – Chí hỏi.
– Vì hắn chờ tôi trả lời cả năm nay. – Sa đáp. – Hắn là người biết chờ.
Chí nhìn cô rất lâu. Rồi gã gật đầu.
Bây giờ bà Tư Ốc giơ tay lên. Sáu chiếc xuồng dừng lại, nép vào một rặng bần ngập nước. Phía trước, chỗ con rạch cái đổ ra vàm Rạch Thơm, một chiếc ghe lớn mui gỗ đang neo giữa dòng, không đèn, im lìm như một con cá chết.
– Nó dừng. – Bà Tư thì thào. – Nó chờ ai đó.
– Ghe mũi nhọn. – Chí nói. – Người đi ủng.
Sa thắp đèn lồng. Ngọn lửa nhỏ bùng lên, vàng ấm giữa biển nước đen. Cô cầm chèo, đẩy xuồng ra khỏi rặng bần, chèo thẳng về phía chiếc ghe.
– Ông Phùng! – Cô gọi. – Ông Phùng ơi!
Không ai đáp. Cô chèo lại gần hơn. Mạn ghe cao hơn đầu cô. Cô gõ mái chèo lên mạn ghe, ba tiếng.
– Ông Phùng, tôi biết ông ở trên ghe. Tôi đến một mình.
Một lúc lâu. Rồi tấm phên mui ghe kéo ra. Một cái đầu ló ra, rồi một cây đèn bão được thắp lên. Phùng đứng ở mạn ghe, vẫn áo dài xám tro, khăn đóng gọn gàng, nhìn xuống cô. Sau lưng hắn, Sa thấy hai gã đàn ông cầm dao phay.
– Cô lang. – Phùng nói, giọng vẫn hiền như mọi khi. – Cô đến đây làm gì giữa đêm?
– Tôi đến trả lời ông. – Sa nói. – Câu ông nhờ dì Tư hỏi tôi hồi Tết.
Phùng im lặng một lúc. Rồi hắn cười, khẽ thôi.
– Bây giờ à?
– Bây giờ. Và tôi đến vì một người bệnh. Anh Hựu ho cả tuần nay, phổi bên phải đã có tiếng ran. Thầy thuốc giỏi ở kinh của ông không chữa được, vì không có thầy thuốc giỏi nào cả. Không có tôi, ba ngày nữa anh ấy sẽ sốt cao, năm ngày nữa anh ấy sẽ không thở được. Ông cần anh ấy sống, đúng không? Người chết thì không ai trả tiền thưởng.
Phùng nhìn cô. Rồi hắn ra hiệu. Một gã cầm dao thả cái thang dây xuống.
Sa leo lên mạn ghe, cái tráp thuốc trên lưng. Trong khoang ghe, giữa những chồng giấy bọc vải dầu, Thái tử ngồi dựa vào vách, tay bị trói, miệng bị nhét giẻ. Anh ta nhìn thấy cô, mắt mở to. Anh ta ho, tiếng ho bị giẻ chặn lại thành một tiếng nghẹn.
– Bỏ giẻ ra. – Sa nói. – Anh ấy không thở được.
Phùng gật đầu. Gã cầm dao rút giẻ ra. Thái tử ho một tràng dài. Sa quỳ xuống bên anh ta, bắt mạch, mở tráp lấy một gói thuốc. Cô gấp giấy, buộc nút con bướm. Ngón tay cô không run. Cô ngạc nhiên vì ngón tay mình không run.
– Cô lang. – Phùng ngồi xuống chiếc ghế đẩu đối diện, cách cô ba bước. – Cô biết từ bao giờ?
– Tối nay. Tấm bảng công đức. Chữ Tâm.
Phùng nhắm mắt lại, và lần đầu tiên Sa thấy trên mặt hắn một nét gì đó như mệt mỏi.
– Chữ Tâm. – Hắn nói. – Ba năm tập. Ba năm, ngày nào cũng viết, viết đến mức tay ta tự viết. Ta xóa đi bao nhiêu lần rồi, cô biết không? Lần nào cầm bút lớn, tay ta cũng tự hất lên ở chấm cuối. – Hắn mở mắt. – Ta biết cái gã buôn sừng là ai. Chiều nay ta thấy gã đi vào chòi tre. Ta đứng ngoài vách. Gã quỳ xuống trước thầy đồ Hựu, dập đầu một lạy. Lái buôn không quỳ trước thầy đồ dạy trẻ. Ta không cần chờ nữa.
– Ông là thư lại của tướng quân Mai.
– Bảy năm. – Phùng nói. – Bảy năm ta viết thư cho ông ấy, chép công văn, giữ sổ sách. Ba lần ta thi Hương, ba lần đỗ, ba lần thi Hội, ba lần trượt. Không có tiền lót quan trường, không có cha làm quan. Bảy năm ngồi viết cho người khác ký. – Hắn cười. – Chữ ông ấy đẹp lắm, cô ạ. Ta mê nó từ ngày đầu. Ban đêm ta ngồi chép lại thư ông ấy, chép đi chép lại, chỉ vì thích. Ta chưa từng nghĩ sẽ dùng nó làm gì.
– Cho đến khi?
– Cho đến khi ta nhận tiền của bọn thầu cung ứng lương thảo cho ải. Không nhiều. Ba trăm lạng. Gạo mốc đổi thành gạo tốt trên sổ. Ông ấy biết. Ông ấy gọi ta vào, bảo đợi tay ông ấy lành, ông ấy sẽ đưa ta ra bộ Hình. Bốn mươi ngày. – Phùng nhìn ngọn đèn bão. – Bốn mươi ngày, cô ạ. Ấn tín trong tay ta, vì ông ấy không đóng dấu được. Chữ trong tay ta. Và ông Đới Khâm, người mà ta quen từ hồi đi thi, đến tìm ta, nói rằng Thái úy rất cần một lá thư.
– Ông viết.
– Ta viết. Ngày mười tám tháng Ba. Ta đã định ghi một ngày khác, sau khi tay ông ấy lành. Nhưng Đới Khâm bảo không cần, không ai biết ông ấy gãy tay, ông ấy giấu cả triều. – Phùng nhìn cô. – Mà đúng là không ai biết. Trừ một người.
Hắn nghiêng người về phía cô.
– Cha cô.
Sa ngồi im. Thái tử, tựa vào vách, nhìn Phùng chằm chằm.
– Ở công đường hôm ấy, – Phùng nói, – ta ngồi sau rèm tre, cạnh Đới Khâm. Cha cô cầm lá thư lên. Cha cô hỏi quan Đại lý tự: "Thư này ghi ngày nào?" Quan bảo: "Mười tám tháng Ba năm ngoái." Cha cô im một lúc, rồi nói: "Bẩm quan, ngày ấy..." Rồi Đới Khâm mở quạt. Phe phẩy hai cái. Cha cô nhìn thấy. Cha cô dừng lại. Rồi cha cô nói câu kia. – Phùng ngả lưng ra. – Hai chữ "ngày ấy", cô lang. Viên thư ký công đường không ghi. Quan Đại lý tự không hỏi lại. Chẳng ai chịu nghe. Nhưng ta nghe. Ta biết cha cô biết. Ta đã chờ hai năm xem bao giờ ông ấy nói hết câu.
Hắn đứng dậy, đi đến mạn ghe, nhìn ra mặt nước.
– Cô lang. Ta không định làm hại cô. Ta thật lòng muốn cưới cô. Ta nghĩ, một người như cô, một người như ta, đều bị cái thế gian này vứt xuống đáy sông. Ta tưởng chúng ta hiểu nhau. – Hắn quay lại. – Ghe mũi nhọn sắp tới. Bốn người của Thái úy. Ta sẽ đưa thầy đồ Hựu về kinh. Cô đi cùng, chữa cho anh ta sống tới kinh. Tới kinh, ta sẽ xin Thái úy tha cho cha cô. Ta được làm tri phủ, cô làm phu nhân tri phủ. Cha cô được về nhà. Cô thấy thế nào?
Sa đứng dậy. Cô nhìn Phùng, nhìn hai gã cầm dao phay đứng ở cửa khoang, nhìn Thái tử đang ho.
– Ông Phùng. – Cô nói. – Câu trả lời của tôi về chuyện hồi Tết là không.
Phùng nhíu mày.
– Còn chuyện đêm nay, – cô nói tiếp, và cô cao giọng lên một chút, đủ để vang ra ngoài mặt nước, – thì ông đã nói đủ rồi. Bà Tư ơi!
Từ trong bóng tối quanh chiếc ghe, mười một ngọn đuốc bùng lên cùng một lúc.
Sáu chiếc xuồng đã áp sát mạn ghe từ lúc nào, lặng lẽ như sáu con cá sấu. Bà Tư Ốc đứng ở mũi xuồng đầu tiên, cây sào chống trong tay. Sau lưng bà là những người đàn ông Vàm Lác, những người Phùng đã viết thư thuê không lấy tiền, những người Phùng đã cho gạo cứu dịch. Họ đã nghe. Từng chữ.
Chí là người đầu tiên lên mạn ghe. Gã không cầm kiếm. Gã cầm một cây sào tre. Gã quật một nhát vào cổ tay gã cầm dao thứ nhất, con dao phay văng xuống nước. Cai Sẻ lên sau, đè gã thứ hai xuống sàn ghe.
Phùng không chống cự. Hắn đứng ở mạn ghe, nhìn Sa, và khóe miệng hắn nhếch lên, buồn bã.
– Cô lang. – Hắn nói. – Cô nói dối giỏi hơn ta tưởng.
– Tôi không nói dối. – Sa đáp. – Tôi chỉ nói câu mà người nghe muốn tin. Ông dạy tôi.
Phùng gật đầu, như người thầy chấm bài của học trò. Rồi hắn ngả người ra sau, rơi khỏi mạn ghe, xuống mặt nước đen.
– Nó lặn! – Bà Tư hét. – Soi đuốc!
Người ta soi đuốc khắp mặt nước. Không thấy gì. Rồi từ phía vàm Rạch Thơm, có tiếng mái chèo khua nước gấp gáp. Một chiếc ghe mũi nhọn lao ra từ bóng tối, chèo bốn tay, nhanh như mũi tên. Nó lướt qua một vệt nước, có người trên ghe thò tay kéo một bóng đen ướt sũng lên. Rồi nó quay mũi, lao ra phía sông cái, biến mất.
Chí đứng ở mạn ghe, cây sào trong tay, nhìn theo.
– Hắn về kinh. – Gã nói. – Hắn sẽ báo Thái úy: Thái tử ở Vàm Lác. Một tháng nữa, có khi sớm hơn, quân Thái úy sẽ xuống đây.
Sa quỳ xuống bên Thái tử, cởi trói cho anh ta. Anh ta ho, rồi nắm lấy tay cô.
– Cô lang. – Anh ta nói khàn khàn. – Câu cha cô nói ở công đường. Hai chữ "ngày ấy". Cô nghe thấy chứ?
– Tôi nghe thấy.
Cô ngẩng lên. Trên mặt nước đen, phía sông cái, không còn một ánh đèn. Chỉ có tiếng mái chèo xa dần. Và cô nghĩ đến cha mình, ở một nơi cách đây hai mươi ngày đường sông, trong phủ của kẻ cướp ngôi, đang bốc thuốc cho vua mới. Một người đã nói được hai chữ đầu của một câu, và đã chờ hai năm để nói nốt.
Bây giờ, người thứ hai biết câu ấy đang chèo ghe về kinh, nhanh như mũi tên.
— Hết chương 15 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe