Chương 17: Thầy thuốc trong phủ Kỳ vương
Hai năm nay, sáng nào ông Dương Khải Tế cũng rửa chân cho một ông vua.
Ông quỳ trên nền gạch hoa của điện Thanh Lương, trước mặt là một cái chậu đồng đựng nước ấm pha muối. Trong chậu là hai bàn chân trắng bệch, phù nề, của người đàn ông bốn mươi tám tuổi đang mặc long bào. Ngón chân cái bên trái có một vết loét to bằng đồng xu, mãi không lành. Đó là thứ bệnh mà người ta gọi là tiêu khát: khát nước suốt ngày, tiểu tiện suốt đêm, gầy rộc đi dù ăn bao nhiêu cũng không đủ. Rồi đến một ngày vết xước nhỏ ở chân hóa thành vết loét ăn sâu vào thịt.
Thái y viện đã chữa ba tháng không khỏi. Vết loét lan rộng, bốc mùi. Có thái y bàn chuyện cắt ngón chân. Rồi Thái úy Ung nhớ ra trong phủ mình đang giam một ông lang già bắt được từ đám cháy ở phố Hòe, một ông lang cả kinh thành khen giỏi nắn xương, giỏi trị vết thương.
Ông Dương rửa vết loét mỗi ngày hai lần. Ông cắt bỏ chỗ thịt chết, đắp thuốc, băng lại. Ông bắt Kỳ vương bỏ rượu, bỏ bánh ngọt, bỏ cơm trắng, chỉ ăn gạo lứt, rau luộc, cá hấp. Kỳ vương chửi ông, ném chén vào ông, rồi sau một tháng vết loét bắt đầu lên da non, Kỳ vương không ném chén nữa.
Hai năm. Ông được ăn ngon, ngủ trong một gian phòng sạch sẽ ở hậu điện, có lính canh ngày đêm. Mỗi tháng một lần, ông được ra chợ cửa Bắc mua thuốc, có bốn người lính đi kèm. Ông không được viết thư, không được gặp ai ngoài người trong phủ.
– Ông lang. – Kỳ vương nói, sáng hôm ấy, khi ông đang quấn băng. – Ông có biết vì sao Ung Trọng Hoành đưa ông vào đây không?
– Để chữa chân cho Bệ hạ.
– Không. – Kỳ vương cười, một cái cười mệt mỏi, khô khốc. – Để ta sống. Ta mà chết thì hắn phải tìm một người khác ngồi lên cái ghế này. Mà nhà ta thì hết người rồi. Thái tử chạy mất. Mấy đứa cháu còn bé quá. Ta phải sống, để hắn còn có người đóng dấu những gì hắn viết. – Kỳ vương nhìn xuống bàn chân mình. – Ông lang, ông nghĩ ta có phải là vua thật không?
Ông Dương thắt nút băng. Nút con bướm, hai vòng. Ông không trả lời.
– Ông không trả lời. – Kỳ vương nói. – Ông là người duy nhất trong cái điện này không trả lời câu ấy. Những người khác đều bảo "Bệ hạ là thiên tử".
– Thần là thầy thuốc. – Ông Dương nói. – Thần chỉ biết vết loét này mười ngày nữa sẽ lành nếu Bệ hạ không ăn bánh đậu xanh nữa.
Kỳ vương nhìn ông một lúc lâu. Rồi ông ta bật cười, lần này là cười thật.
Hai năm, ông Dương sống như thế. Ông ngủ, ăn, rửa chân cho vua, sắc thuốc, đi chợ mỗi tháng một lần. Và ông nghĩ. Ông nghĩ về một câu nói bị cắt đôi.
"Bẩm quan, ngày ấy..."
Ông đã định nói gì? Ông đã định nói: "Ngày ấy, tay phải tướng quân đang bó nẹp. Tôi bó. Tôi dặn bốn mươi ngày không được cầm bút. Tướng quân không thể viết lá thư này." Ông đã định nói thế. Rồi ông nhìn thấy cái quạt giấy mở ra sau rèm tre, phe phẩy hai cái. Và ông nghĩ đến chiếc guốc của con bé nhà buôn vải vớt được ở bến Hàng Bè.
Hai năm nay, mỗi đêm, ông nói nốt câu ấy trong đầu. Một mình. Trong gian phòng sạch sẽ có lính canh.
Nhưng một câu nói một mình trong đầu thì không cứu được ai. Ông biết, nếu một ngày ông được đứng trước công đường lần nữa, chỉ một mình ông nói thì không đủ. Người ta sẽ bảo ông là kẻ làm chứng gian, hôm trước nói thế này, hôm sau nói thế khác. Ông cần người khác. Người đã thấy tận mắt.
Ai đã thấy tận mắt? Tướng Mai giấu cả triều. Ông ngã ở bãi Hươu Trắng, đứng dậy, cười, lên ngựa săn đến chiều. Nhưng có một người đã thấy ông đau. Người đã đỡ ông dậy, người đã giữ con ngựa, người đã thấy cổ tay ông sưng vù lên như quả bưởi trong lúc ông nghiến răng cười với cả triều.
Lão giữ ngựa của tướng Mai. Lão Lùng.
Ông Dương mất mười bốn tháng để tìm lão Lùng. Mười bốn chuyến đi chợ cửa Bắc, mỗi chuyến chỉ được nửa canh giờ, bốn người lính kè kè bên cạnh. Ông không hỏi ai. Ông chỉ nhìn. Ông nhìn những người đánh xe, những người giữ ngựa, những người bán cỏ ở chợ ngựa cửa Bắc. Đến chuyến thứ mười lăm, ông thấy một ông già lưng còng, một chân đi khập khiễng, đang bán cỏ khô ở góc chợ. Ông già ấy có một cái tật: khi buộc bó cỏ, lão quấn dây hai vòng rồi thắt nút kiểu dây cương lính kỵ.
Ông Dương mua cỏ. Lão Lùng không nhận ra ông. Ông đứng chọn cỏ thật lâu, và trong lúc bốn người lính đứng ngáp ở đầu chợ, ông nói rất nhỏ:
– Tháng Ba năm Cảnh Thái thứ mười ba. Bãi Hươu Trắng. Cổ tay phải.
Lão Lùng đánh rơi bó cỏ.
Từ đó, mỗi tháng một lần, ông Dương mua cỏ của lão Lùng. Không bao giờ nói quá ba câu. Lão Lùng kể cho ông nghe: ngày rằm tháng Ba ấy, lão đỡ tướng quân dậy, thấy cổ tay ông vẹo đi. Tướng quân bảo lão im. Chiều về, tướng quân ngồi trên ngựa mà mồ hôi chảy ròng ròng. Tối ấy, chính lão chạy sang phố Hòe gọi ông lang Dương. Và trong bốn mươi ngày sau đó, ngày nào lão cũng thấy cậu thư lại họ Phùng vào thư phòng, ngồi chỗ tướng quân. Cậu ta cầm bút của tướng quân, đóng con dấu hổ đồng mà tướng quân giao cho cậu ta giữ.
Lão Lùng còn kể thêm một chuyện. Ba ngày sau khi tướng quân ngã, buổi sáng ngày mười tám, lão vào thư phòng dọn dẹp, thấy cậu thư lại ngồi viết một lá thư rất dài, chữ to, giống hệt chữ tướng quân. Lão hỏi cậu viết gì mà to thế. Cậu ta lấy tay che lại, bảo viết tấu sớ, chữ to cho Hoàng thượng dễ đọc.
Ông Dương nghe, và không nói gì. Ông chỉ mua cỏ. Ông về phủ, rửa chân cho Kỳ vương, và đêm ấy lần đầu tiên sau hai năm, ông ngủ được một giấc trọn đêm.
Rồi một buổi chiều đầu tháng Chín, Đới Khâm đến hậu điện.
– Ông lang. – Hắn nói, vẫn cái giọng nhỏ nhẹ, vẫn cái quạt giấy trong tay. – Thái úy mời ông qua phủ.
Ông Dương đi. Ông không mang theo gì, chỉ có cái tráp thuốc gỗ dâu thứ hai mà Kỳ vương cho người làm lại cho ông.
Phủ Thái úy vẫn như hai năm rưỡi trước, cái đêm ông được xe đón đi nửa đường. Sân lát đá xanh, hồ sen, lầu son. Thái úy Ung Trọng Hoành ngồi trong thư phòng, sau một cái bàn gỗ trắc lớn. Ông ta sáu mươi hai tuổi, tóc bạc trắng, mặt vuông, lông mày rậm, đôi mắt nhỏ nhưng sáng. Ông ta không giống một kẻ gian thần trong các vở tuồng. Ông ta giống một ông quan già mệt mỏi đã làm việc quá nhiều.
Bên cạnh ông ta, đứng sau một tấm bình phong thấp, là một người đàn ông ba mươi ba tuổi, mặc áo dài xám tro, khăn đóng gọn gàng. Da hắn sạm đi vì gió sông, nhưng ông Dương nhận ra ngay. Hắn đã từng đến Bảo Hòa Đường, ba năm trước, mua thuốc giảm đau cho tướng Mai. Hắn đã từng ngồi sau rèm tre ở công đường.
– Ông lang. – Thái úy Ung nói. Giọng ông ta trầm, chậm rãi. – Thái tử còn sống. Hai năm nay trốn ở một cái chợ nổi phương nam. Bây giờ thì nó đã có người của Mai Đình Thạc bên cạnh, chắc chắn không dại ngồi đó chờ ta. Giờ này hẳn đang trên đường lên ải Ô Lâm, về với ba vạn quân của nhà họ Mai. Hai tháng nữa, có khi ít hơn, chúng sẽ kéo về kinh.
Ông Dương không nói gì.
– Ông có biết vì sao ta làm tất cả những chuyện này không? – Thái úy hỏi. – Không phải vì ta ghét Mai Đình Thạc. Ta không ghét ai. Ta chỉ không thể để ba vạn quân trong tay một người không phải ta. Một người trung với Đông cung, mà Đông cung thì từ năm mười sáu tuổi đã viết sớ đòi bớt quyền của Thái úy. Ta làm quan bốn mươi năm. Ta biết một điều: kẻ nào để người khác cầm dao thì sớm muộn cũng chết vì dao. – Ông ta đẩy một tờ giấy trắng và một nghiên mực về phía ông Dương. – Khi chúng về, chúng sẽ xử lại vụ Mai Đình Thạc. Ta cần ông viết ra đây, có điểm chỉ, rằng ông giữ nguyên lời khai năm Cảnh Thái thứ mười bốn. Chữ trong thư là chữ tay Mai Đình Thạc. Chỉ thế thôi.
Ông Dương nhìn tờ giấy trắng. Rồi ông nhìn người đàn ông đứng sau bình phong.
– Cậu Phùng. – Ông nói. – Cậu từ phương nam về. Cậu đã thấy Thái tử. Thế thì cậu đã gặp con gái tôi.
Phùng không đáp. Nhưng mắt hắn chớp một cái.
– Cậu đã gặp nó. Ở phương nam. – Ông Dương nói tiếp, chậm rãi. – Cậu ở đây, nghĩa là cậu đã chạy về. Cậu chạy về, nghĩa là cậu không mang được nó theo. Và nếu Thái tử đang ở Ô Lâm, thì con gái tôi... – Ông dừng lại. Rồi ông nói. Lần đầu tiên trong cả cuộc đời, giọng ông vang lên trước một người quyền thế mà không run: – Con gái tôi đang ở cạnh Thái tử, trên đường lên ải, giữa người của nhà họ Mai. Thưa Thái úy, ngài không với tới nó được nữa.
Thái úy Ung nhìn ông, không chớp mắt.
– Thì sao?
– Thì tôi không viết. – Ông Dương nói. Ông đẩy tờ giấy trắng trả lại. – Hai năm rưỡi trước, ông Đới mở quạt ra phe phẩy hai cái, và tôi đã nói câu ngài cần. Bây giờ tôi xin nói nốt câu tôi chưa nói hết hôm ấy. Ngày mười tám tháng Ba năm Cảnh Thái thứ mười ba, tay phải tướng quân Mai Đình Thạc đang bó nẹp. Tôi bó. Tướng quân không viết lá thư ấy. – Ông nhìn sang Phùng. – Người viết đang đứng sau tấm bình phong kia.
Phùng nhắm mắt lại.
Đới Khâm, đứng ở cửa, gập cái quạt giấy lại, gõ vào lòng bàn tay hai cái. Không ai nói gì một lúc lâu. Bên ngoài, gió thổi qua hồ sen, lá sen cũ khô xào xạc.
– Ông lang. – Thái úy Ung nói cuối cùng. Giọng ông ta vẫn trầm, vẫn chậm, không giận dữ. – Ông vừa nói một câu rất đẹp. Tiếc là không ai nghe ngoài ba người trong phòng này. – Ông ta quay sang Đới Khâm. – Đưa ông lang ra trang trại ở bãi Hươu Trắng. Canh cẩn thận. Nếu quân Ô Lâm về tới cửa Bắc, ta cần có một thứ để mặc cả.
— Hết chương 17 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe