Chương 13: Phiên chợ nước nổi
Nước lên đến bậc thứ tư của cầu thang nhà sàn thì người đầu tiên ở xóm Rạch Gốc chết vì đi tả.
Đó là một ông lão bán cá khô, sáng còn ngồi vá lưới, chiều bắt đầu đi ngoài ra nước như nước vo gạo. Đến nửa đêm thì mắt trũng sâu, da nhăn như quả táo khô, tay chân lạnh ngắt. Sa chèo xuồng đến nơi thì ông đã đi rồi. Con gái ông ngồi ôm xác cha, khóc không ra tiếng, bởi chính cô ta cũng đã bắt đầu đau bụng quặn.
Ba ngày sau, Vàm Lác có mười bảy người mắc. Bảy ngày sau, bốn mươi hai.
Tháng Tám năm thứ hai niên hiệu Thiên Định, mùa nước nổi ở Vàm Lác lên cao nhất trong hai mươi năm, theo lời bà Tư Ốc. Nước tràn bờ, tràn ruộng, tràn vào gầm nhà sàn, tràn vào giếng. Cả vùng thành một biển nước đục ngầu, chỉ còn ngọn cây và mái nhà nhô lên. Chợ nổi vẫn họp, nhưng ghe xuồng giờ đậu ngay giữa đường làng, người ta mua bán qua cửa sổ. Và từ trong biển nước ấy, bệnh tả lan ra như vết dầu loang.
Sa không ngủ. Cốm không ngủ. Cô biết thứ bệnh này. Cha cô đã kể về nó, về trận dịch ở ải Ô Lâm năm cô hai tuổi. Người chết vì tả không phải vì bệnh, mà vì mất nước, mất muối, mất cho đến khi máu đặc lại như bùn. Muốn cứu người, phải cho họ uống, uống liên tục, uống nhiều hơn mất.
Cô bắt cả xóm phải nấu nước. Nước nào cũng phải đun sôi. Không ai được uống nước sông, nước giếng sống. Cô dạy các bà mẹ rang gạo cho vàng, nấu thành nước cháo loãng, pha một nhúm muối với một chút đường thẻ. Rồi đổ cho người bệnh uống từng ngụm, từng ngụm, không ngừng, dù họ nôn ra cũng phải đổ tiếp. Cô bắt người ta đào hố chôn chất thải của người bệnh ở chỗ đất cao, xa nguồn nước. Cô bắt người ta rửa tay bằng nước sôi để nguội trước khi ăn.
Người ta làm theo. Không phải vì họ hiểu, mà vì cô lang miệt trên đã cứu được bà đẻ khó ở Rạch Gốc, ông hương sư méo miệng, và thằng Út bị rắn cắn.
Nhưng nấu nước thì phải có củi. Củi ướt hết. Rang gạo thì phải có gạo. Gạo trong bồ của dân ngập nước, mốc meo. Đường thẻ thì chỉ nhà giàu mới có.
Ngày thứ tám của dịch, chiếc ghe sơn đen của Phùng cập vào đình làng. Trên ghe chất đầy những bao gạo khô, những bó củi gỗ tràm khô giòn, những bánh đường thẻ gói lá chuối. Phùng đứng trên mũi ghe, áo dài xám tro xắn tay, gọi với lên:
– Cô lang! Gạo ba mươi bao, củi hai trăm bó, đường năm mươi bánh. Tôi mua từ ghe buôn dưới vàm Rạch Thơm. Cô cần gì nữa thì nói.
Cả đám đàn bà đang nấu nước ở sân đình đứng dậy, reo lên. Ông hương cả, người mà cả tuần nay khóa cửa ở nhà không dám ra, bỗng xuất hiện, chạy lại vái Phùng ba vái.
Phùng còn làm nhiều hơn thế. Ông ta cho dựng ba cái lều tre lợp lá ở sân đình, chỗ đất cao nhất, để đưa người bệnh đến, cách ly với người lành, như Sa đã dặn. Ông ta thuê người chèo xuồng đi khắp các con rạch, gom người bệnh về. Ông ta ngồi ở cửa lều, ghi tên từng người vào một cuốn sổ, ghi ai đã khỏi, ai đã mất, để báo lên phủ. Ông ta không sợ bệnh, không đeo khăn, đi lại giữa những người bệnh như đi giữa chợ.
Sa đứng ở cửa lều nhìn ông ta đút nước cháo cho một đứa bé, và cô không biết phải nghĩ gì.
Cô đã kể cho thầy đồ Hựu nghe chuyện chiếc ghe mũi nhọn, chuyện người đi ủng da. Thái tử nghe, im lặng rất lâu, rồi bảo ông già Ngạc từ đó canh chừng ghe của Phùng. Bảy tháng nay, ông già Ngạc canh. Chiếc ghe mũi nhọn quay lại hai lần nữa. Mỗi lần, người đi ủng ở lại nửa canh giờ rồi đi. Không có gì khác. Phùng vẫn bán giấy, vẫn viết thư thuê, vẫn dạy Cốm đọc chữ, vẫn ghé chòi tre bàn chuyện sách với thầy đồ Hựu.
Và bây giờ ông ta đứng giữa lều dịch, đút nước cho một đứa bé không phải con mình.
Ngày thứ mười một của dịch, trời đổ mưa từ sáng đến chiều không ngớt. Nước lại lên thêm hai tấc. Sa đang ở trong lều thứ hai, ngồi bên một người đàn bà mới đẻ được ba tháng thì mắc bệnh, đổ từng thìa nước cháo vào miệng chị ta, thì nghe tiếng xôn xao ở cửa lều.
– Có ghe buôn sừng trên nguồn xuống! – Ai đó nói. – Có người bệnh trên ghe!
Sa đưa bát cháo cho Cốm, đứng dậy, ra cửa lều.
Mưa trắng trời. Một chiếc ghe thồ lớn vừa cập vào bậc đá đình, mui tre phủ lá, mạn ghe chất đầy những bó sừng trâu buộc dây. Một người đàn ông đội nón lá rộng vành, mặc áo nâu ướt đẫm, đang bước lên bậc đá. Trên tay người ấy bế một đứa con nít chừng bốn năm tuổi, người mềm oặt, tay chân buông thõng.
– Đứa nhỏ này nằm ở mũi ghe bên kia vàm, – người ấy nói, giọng khàn khàn, – mẹ nó bảo mang đến đình.
Người ấy ngẩng lên. Nước mưa chảy ròng ròng từ vành nón. Bên dưới vành nón là một khuôn mặt đen sạm, gầy, râu quai nón che kín cằm. Một vết sẹo nhỏ trắng bệch ngang cằm, lấp ló dưới bộ râu.
Sa đứng ở cửa lều. Cô không cử động.
Người ấy nhìn thấy cô. Đôi mắt dưới vành nón mở to, rồi đứng yên.
Hai năm. Gần hai năm, kể từ bến Vạn Thọ. Cô đã nghe tin gã chết ở đèo Ba Khoanh. Cô đã nhận một gói thuốc buộc ngược. Cô đã nghĩ đến lúc này hàng trăm lần, mỗi đêm trước khi ngủ, và lần nào cô cũng nghĩ ra một câu để nói.
Bây giờ cô đứng đó, dưới mưa, và cô không nói được câu nào.
– Đứa bé. – Cuối cùng cô nói. – Đưa đây.
Chí bước tới, đặt đứa bé vào tay cô. Tay họ chạm nhau dưới cái thân người nhỏ xíu, lạnh ngắt. Cô bế đứa bé vào lều, đặt xuống chõng, bắt mạch. Mạch nhỏ như sợi tóc, nhưng còn. Mắt trũng, môi khô. Cô bắt đầu đổ nước cháo, từng thìa. Chí đứng ở cửa lều, nước mưa chảy từ người gã xuống nền đất thành một vũng.
– Đỡ đầu nó giúp tôi. – Cô nói, không ngẩng lên. – Nghiêng sang bên. Nó nôn thì nó không sặc.
Gã quỳ xuống bên chõng, đỡ đầu đứa bé. Bàn tay to bè của gã ôm trọn cái đầu nhỏ xíu. Họ làm như thế, không nói gì, suốt nửa canh giờ, cho đến khi đứa bé mở mắt, khóc oe oe một tiếng yếu ớt, rồi đòi mẹ.
Lúc ấy Sa mới ngẩng lên nhìn gã.
– Anh sống. – Cô nói.
– Tôi sống.
– Người ta bảo anh rơi xuống vực ở đèo Ba Khoanh.
– Tôi rơi. – Gã nói. – Có cành thông. Có người đi lấy mật ong.
Cô nhìn gã. Gã nhìn cô. Giữa họ là cái chõng tre, một đứa bé đang khóc đòi mẹ, và gần hai năm.
– Anh buộc ngược. – Cô nói.
Gã chớp mắt.
– Cái gì?
– Cái nút. Anh gửi theo bọn lái muối. Anh buộc ngược bên. Tôi kéo đuôi trái, nó thắt lại. Tôi phải lấy dao cắt.
Chí nhìn cô trân trân. Rồi khóe miệng gã kéo lên một bên, nom ngố hẳn đi, y như ngày nào ở vườn thuốc.
– Tôi buộc mười hai lần. – Gã nói.
Ở cửa lều, có người hắng giọng. Cai Sẻ đứng đó, nước mưa chảy ròng ròng, mặt vừa cười vừa mếu.
– Cậu cả. – Anh ta nói. – Thầy đồ Hựu đang chờ cậu ở chòi tre. Mà cậu ơi, cậu đứng lâu ở đây người ta để ý.
Chí đứng dậy. Gã nhìn Sa một lần nữa. Có một câu gì đó trên môi gã, cô thấy rõ, nhưng gã nuốt nó xuống.
– Tối nay. – Gã nói. – Tôi gặp Điện hạ trước. Rồi tôi tìm cô.
– Anh không cần tìm. – Sa nói. – Tôi ở đây. Lều này. Cả đêm.
Gã gật đầu. Gã đi ra, theo Cai Sẻ. Cô nghe Cai Sẻ nói nhỏ với gã khi họ bước qua sân đình: "Cậu cả, có chuyện này cậu phải biết. Ông Phùng buôn giấy hỏi cưới cô ấy hồi Tết. Cô ấy chưa ưng. Mà ông ấy tốt lắm, cậu ạ, cả chợ..."
Tiếng mưa nuốt mất phần còn lại.
Gần tối, mưa ngớt. Sa ra khỏi lều để rửa tay. Ở hiên đình, người ta vừa treo lên một tấm bảng gỗ mới, sơn son, kẻ chữ đen. Tấm bảng công đức. Ông hương cả đã nhờ Phùng viết, ghi tên những người góp gạo, góp củi, góp tiền chống dịch, người góp nhiều nhất đứng đầu. Phùng viết bằng bút lông lớn, chữ to bằng nắm tay, và tên ông ta đứng ở hàng đầu tiên, khiêm tốn, chỉ ghi "Phùng mỗ, gạo ba mươi bao".
Sa đi ngang qua tấm bảng, không nhìn. Cô đã quen đi ngang qua những tờ giấy treo ở nơi công cộng mà không nhìn.
Nhưng ở phía bên kia sân đình, có một người đứng sững lại.
Chí vừa từ chòi tre của Thái tử trở lại, đi về phía lều dịch như đã hứa. Gã đi ngang qua hiên đình, và gã dừng lại trước tấm bảng công đức. Gã đứng đó, nhìn lên. Đứng lâu đến mức Cai Sẻ phải quay lại kéo tay áo gã.
Sa nhìn thấy, từ cửa lều. Cô thấy mặt gã trắng bệch dưới lớp da cháy nắng. Cô thấy tay gã đưa lên, chỉ vào một chữ ở dòng thứ ba, chữ "Tâm" trong câu "đồng tâm cứu dân". Ngón tay gã dừng ở nét cuối của nó: ba cái chấm không rời nhau mà nối liền thành một nét, chấm cuối hất vọt lên như đuôi con chim én.
Cô băng qua sân đình. Đến gần, cô nghe được gã nói, không với ai cả, giọng như của người đang mơ:
– Chữ này là chữ cha tôi.
— Hết chương 13 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe