Chương 21: Kéo đuôi bên trái
– Cao. – Bà Tư Ốc nói, đi một vòng quanh Mai Viễn Chí như người đi chợ trâu. – Vai rộng. Răng đủ. Cái sẹo ở cằm thì xấu, nhưng thôi, đàn ông có sẹo mới ra đàn ông.
– Dì Tư. – Sa nói, mặt đỏ lựng.
– Mày im. Tao đi hai mươi lăm ngày ghe lên đây là để coi mặt nó, chứ không phải để coi mặt mày. – Bà dừng lại trước mặt Chí, ngẩng lên nhìn gã, vì gã cao hơn bà gần hai cái đầu. – Cậu. Cậu có biết con nhỏ này nó gói thuốc cho dân Vàm Lác hai năm, không lấy của ai một đồng thừa không?
– Dạ biết.
– Cậu có biết nó đứng lều dịch mười một ngày không ngủ không?
– Dạ biết. Con có mặt ngày thứ mười một.
– Cậu có biết nó leo lên ghe thằng Phùng một mình nửa đêm, trong khi cậu nằm dưới mạn ghe không?
Chí đỏ mặt.
– Dạ. Biết.
Bà Tư Ốc nhìn gã thêm một lúc. Rồi bà vỗ một cái vào cánh tay gã, mạnh đến mức Cai Sẻ đứng gần đó phải nhăn mặt thay.
– Được. Tao ưng.
Sáng mùng tám tháng Ba năm thứ nhất niên hiệu Khải Minh, phố Hòe dậy sớm hơn mọi ngày. Ở chỗ nền đất cháy năm nào, một ngôi nhà gỗ ba gian mới dựng xong từ tháng trước, còn thơm mùi gỗ mít mới bào. Trên cửa treo một tấm biển nhỏ, chữ viết tay, nét cứng và nhỏ, nét móc ngắn và dứt khoát: Bảo Hòa Đường. Bên trong có một cái tủ thuốc mới, chưa đủ trăm ngăn, mới được sáu mươi. Sa bảo cô sẽ đóng thêm dần. Ngăn đầu tiên ở hàng trên cùng, cô không viết chữ mới. Cô gắn lên đó mảnh gỗ cháy sém Chí nhặt được trong đống tro, nửa còn lại của hai chữ "Đương quy".
Cha cô không được hành nghề trong kinh thành ba năm. Nhưng không ai cấm con gái ông.
Cốm đứng sau quầy, mười sáu tuổi, cao lêu nghêu, mặc áo dài mới mà tay áo đã ngắn cũn vì nó lại lớn thêm. Nó lên cùng ghe với bà Tư, mang theo cái cân tiểu ly bằng đồng. Ở Vàm Lác, nó đã để lại sạp thuốc dưới gốc gáo cho thằng Út, đứa bé bị rắn nước cắn năm nào, giờ đã tám tuổi và theo nó học xắt thuốc từ mùa nước nổi. Cốm bảo nó chỉ lên dự đám cưới rồi về. Sa không tin. Nhưng cô không nói.
– Chị Sa. – Cốm nói, đưa cho cô một gói giấy nhỏ. – Có người gửi.
Gói giấy buộc nút con bướm. Cánh hơi cứng, đuôi trái dài hơn đuôi phải. Sa kéo đuôi trái. Bên trong là một mảnh lụa vàng, mấy chữ son nét run run:
"Vết loét lành rồi. Mười ngày, đúng như ông lang nói. Không ăn bánh đậu xanh nữa. Chúc hai người."
Không ký tên. Ở góc có đóng một con dấu nhỏ hình vuông. Sa nhìn mảnh lụa, rồi cô gấp lại, cất vào ngực áo, cạnh tờ hôn thư và mẩu gỗ hình con bướm. Người đàn ông bốn mươi chín tuổi ấy giờ sống trong một ngôi nhà nhỏ có vườn ở ngoại thành, không được ra khỏi cổng, nhưng có một ông lang khác đến rửa chân mỗi sáng. Vua mới không giết chú mình. Người ta bảo vua mới đã đọc hai câu luật cách nhau ba dòng cả trăm lần.
Lễ cưới làm giản dị. Mai phu nhân đã bỏ tang từ hôm cải táng chồng ở Phù Lưu, giờ mặc áo lụa màu lam, dẫn đầu nhà trai đi bộ từ phường Cửa Bắc sang phố Hòe. Theo sau bà là Chí, mặc áo gấm đỏ, đầu đội khăn xếp, mặt đỏ như gấc dưới bộ râu đã cạo nhẵn. Theo sau gã là Cai Sẻ, cầm cái tráp trầu cau. Theo sau Cai Sẻ là lão phó tướng Ma Đẩu, chột một mắt, gầy như que củi, xin nghỉ ải mười ngày về kinh chỉ để đi bộ sau lưng thằng cháu mà lão coi như con. Và theo sau tất cả là lão Lùng, khập khiễng, dắt một con ngựa trắng mà không ai cưỡi, vì lão bảo tướng quân ngày xưa cưỡi con ngựa trắng, hôm nay để nó đi cùng cho đủ người.
Bà bán xôi đầu ngõ đứng ở cửa nhà, tóc bạc trắng, tay cầm cái mẹt xôi gấc. Khi đoàn nhà trai đi ngang qua, bà dúi cả mẹt xôi vào tay Cai Sẻ.
– Tao nói rồi mà. – Bà nói to, cho cả phố nghe. – Tao nói từ mười mấy năm trước rồi mà, con bé đó giữ cái hôn thư là đúng!
Cả phố cười ồ. Không ai nhắc lại rằng mười mấy năm trước bà đã nói đúng câu ngược lại.
Ông Dương đứng ở cửa Bảo Hòa Đường đón nhà trai. Ngày mai ông lên đường đi Ô Lâm. Cái tay nải của ông đã gói sẵn, dựng ở góc nhà, bên cạnh một cái áo bông vải chàm dày, chần ba lớp bông. Mai phu nhân khâu. Bà mang sang từ hôm qua, đặt lên bàn, không nói gì, chỉ bảo: "Trên ải tháng Mười đã có sương muối." Ông Dương đã cúi đầu cảm ơn rất lâu.
Cai Sẻ đặt tráp trầu cau lên bàn thờ. Theo lệ, cái tráp phải được buộc bằng dây đỏ. Sa đã buộc nó từ sáng sớm, bằng một sợi chỉ điều to bằng cọng rơm, quấn hai vòng, thắt nút con bướm, hai cánh xòe đều, hai đuôi rủ xuống. Theo lệ nhà trai phải mở tráp trước bàn thờ nhà gái. Theo lệ của Bảo Hòa Đường thì người mở phải biết kéo đuôi nào.
Chí đứng trước bàn thờ. Gã nhìn cái nút. Cả gian nhà im lặng. Bà Tư Ốc nín thở. Cốm nín thở. Ông Dương đứng một bên, tay chắp sau lưng, và Sa thấy khóe miệng cha mình đang cố không nhếch lên.
Chí đưa tay ra. Bàn tay to, ráp, có vết chai chỗ cầm cương. Ngón tay gã chạm vào cái đuôi bên phải. Dừng lại ở đó.
Có người khẽ kêu "ối".
Rồi ngón tay gã dời sang bên trái. Gã cầm lấy cái đuôi bên trái, bằng hai ngón, và kéo nhẹ.
Nút bung ra một cái, gọn gàng, như một con bướm vỗ cánh bay đi.
Cả gian nhà vỡ òa tiếng cười. Cai Sẻ vỗ đùi đen đét. Bà Tư Ốc chửi một câu gì đó bằng giọng miệt dưới mà không ai nghe rõ nhưng ai cũng biết là khen. Lão Ma Đẩu, người cả đời chưa ai thấy cười, bật ra một tiếng như tiếng quạ kêu. Và Mai phu nhân lấy khăn chấm mắt, quay sang ông Dương, nói nhỏ:
– Ông ấy mà thấy cảnh này...
– Tướng quân sẽ bảo thằng con mình kéo chậm quá. – Ông Dương nói.
Hai người già nhìn nhau, rồi cùng cười.
Chiều hôm ấy, khi khách còn ngồi uống nước chè ở nhà trên, Cốm kéo Sa ra sau bếp. Thằng bé đứng gãi đầu, như cái đêm tháng Hai năm nào nó bò ra từ sau tấm rèm cót.
– Chị Sa. Em không về Vàm Lác đâu.
– Chị biết.
Cốm tròn mắt.
– Sao chị biết?
– Em mang cái cân lên. – Sa nói. – Người chỉ đi ăn cưới rồi về thì không mang cái cân theo.
Thằng bé đỏ mặt. Rồi nó nói một mạch, như Chí ngày nào ở vườn thuốc, như người đã tập câu này suốt hai mươi lăm ngày trên ghe:
– Em đi Ô Lâm với ông. Ông già rồi, đường núi xa, trên ải lạnh, lính ốm nhiều. Ông cần người đun nước, xắt thuốc, gói thuốc. Em đọc được tên ba trăm vị thuốc rồi. Em buộc được nút con bướm, buộc đúng chiều. Ba năm nữa em về, em xin chị cho em ngồi cái quầy này.
Sa nhìn thằng bé. Rồi cô đưa tay vuốt mớ tóc lòa xòa trên trán nó, y như cha cô vẫn làm với cô.
– Em đã hỏi ông chưa?
– Ông bảo hỏi chị. – Cốm nói. – Ông bảo cái hiệu này giờ là của chị.
Đến tối, khi khách đã về, khi bà Tư Ốc đã ngủ say trên gác với tiếng ngáy vang cả phố, khi cha cô đã đi nằm sớm để sáng mai lên đường, Sa ra vườn thuốc phía sau. Vườn còn ngổn ngang, mới dọn được nửa. Nhưng bụi hoa sói ở góc vườn thì vẫn ở đó, sống qua đám cháy, sống qua ba mùa đông không ai chăm. Bây giờ nó đang trổ những chùm hoa nhỏ như hạt tấm, vàng ngà, thơm đến tận gian trong.
Chí đứng đó từ trước. Gã đứng cách bụi hoa sói ba bước, như người lính đứng gác.
Sa đi đến cạnh gã. Gã không lùi.
– Anh đứng đây làm gì?
– Chờ cô. – Gã nói. Rồi gã thò tay vào ngực áo, lấy ra cái túi hoa sói. Ba năm. Vải bạc trắng, rách một góc, khâu chằng khâu đụp bằng chỉ gai thô, chẳng còn ra hình cái túi. Cái nút con bướm bằng dây gai vẫn còn đó, đen bóng. – Hoa trong này hết mùi lâu rồi. Năm ngoái ở ải tôi đã phải đưa sát lên mũi mới ngửi thấy. Năm nay không ngửi thấy gì nữa.
Sa cầm lấy cái túi. Cô kéo đuôi trái, nút bung ra. Cô dốc ngược túi, một nhúm bụi hoa khô đã vụn như cám rơi xuống lòng bàn tay, bay đi theo gió.
Cô ngắt một chùm hoa sói mới, bỏ vào túi. Rồi một chùm nữa. Rồi cô buộc lại, quấn hai vòng, gấp cánh trái, gấp cánh phải, luồn đuôi, kéo nhẹ bằng hai ngón. Một con bướm. Cô buộc nó vào thắt lưng áo gấm đỏ của gã.
– Mai tôi may cho anh cái túi mới. – Cô nói.
– Không. – Chí nói. – Tôi giữ cái này.
Sa ngẩng lên nhìn gã. Gã đang nhìn cô, và có một câu gì đó trên môi gã, cô thấy rõ, như cái hôm ở lều dịch. Gã mở miệng. Rồi gã dừng lại, như người đang tìm chữ.
Lần này cô không nói gì. Cô không giục, không đoán, không nói hộ. Cô đứng giữa vườn thuốc, mùi hoa sói bay quanh hai người, và chờ gã nói cho hết câu.
— Hết —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe