Chương 4: Món số một trăm tám mươi bảy
Văn phòng pháp chế ở tầng sáu, cửa kính, bàn trắng, trên tường không treo gì ngoài một cái đồng hồ. Diệp Anh nghe Ngàn nói hết, không ngắt lời câu nào, rồi lật bản danh mục ra, gõ đầu bút vào dòng một trăm tám mươi bảy.
– Chị nói đúng. – Cô ta nói. – Một danh mục có món bị loại trừ thì báo cáo giám định phải ghi là "không đầy đủ". Hồ sơ của tôi mà có chữ đó, sau này nhánh nào thua cũng lôi ra kiện được.
– Vậy chị gạch dòng ghi chú đi.
– Tôi không gạch được. – Diệp Anh đặt bút xuống. – Bác Tuệ là đại diện nhánh trưởng. Tôi là người làm công. Muốn đổi thì phải có người đứng trên bác Tuệ.
– Chú Ba?
– Chú Ba thì mừng lắm nếu thấy nhánh trưởng giấu một món đồ. Nhưng chú không có quyền. – Cô ta nhìn đồng hồ. – Ông nội có quyền. Mười giờ ông tới công ty ký giấy tờ, tháng nào cũng vậy. Tôi sẽ để hồ sơ này lên trên cùng.
Ngàn nhìn cô gái tóc ngắn ngồi đối diện. Cô đã đoán Diệp Anh sẽ đứng về phía bà Tuệ, vì ai cũng nói bà Tuệ muốn cô ta làm dâu.
– Sao chị giúp tôi?
– Tôi không giúp chị. – Diệp Anh cười, nụ cười mỏng như lưỡi dao rọc giấy. – Tôi giúp hồ sơ của tôi. Chị nhớ cho, chị Ngàn, ở nhà này cái gì cũng có người ghi lại. Kể cả chuyện ai giúp ai.
Mười giờ hai mươi, cửa thép của hầm xoay. Người đi xuống đầu tiên là Duật, đẩy theo chiếc xe lăn qua cái dốc gỗ mà người ta vừa kê tạm lên mấy bậc cầu thang. Ông Tường ngồi trên xe, áo bà ba trắng, mền đắp đùi, tay cầm cây gậy gỗ gác ngang đầu gối. Sau lưng là bà Tuệ, rồi ông Lễ, rồi Diệp Anh với bìa hồ sơ.
Hầm nhỏ lại hẳn khi có sáu người.
– Cô Ngàn đòi coi cái mặt dây. – Ông Tường nói, giọng lệch một bên. – Tuệ không muốn. Thằng Duật muốn. Thằng Lễ thì muốn gì cũng được, miễn nhánh trưởng mất mặt. Đúng không Lễ?
Ông Lễ cười khan, không cãi.
– Ba. – Bà Tuệ nói. – Món đó không có giá trị gì. Mở ra chỉ để người ngoài coi chuyện nhà mình.
– Cô Ngàn nói nhà nào cũng có món giấu. – Ông Tường quay xe về phía Ngàn. – Cô nói tôi nghe, sao cô cần coi món đó?
Ngàn đã chuẩn bị câu trả lời từ tối qua. Cô nói theo đúng như đã chuẩn bị, giọng đều.
– Dạ, vì một món bị loại trừ thì cả báo cáo phải ghi "không đầy đủ". Và vì mọi người trong nhà đều đã biết nó là đá tổng hợp. Mà điều ai cũng biết thì cũng phải có người đo lại, ông.
Ông Tường nhìn cô lâu. Rồi ông thò tay vào cổ áo bà ba, kéo ra một sợi dây gai cũ, đầu dây có một chiếc chìa khóa đồng nhỏ, đã đen.
– Hai mươi tám năm nay, cái chìa này không rời cổ tôi. – Ông nói. – Tuệ, con lùi ra.
Bà Tuệ lùi một bước. Ngàn thấy hai bàn tay bà nắm lại trước bụng, những ngón tay trắng bệch.
Duật quỳ xuống, mở cái khóa móc đồng bằng chiếc chìa của ông nội, rồi mở ổ khóa chung bằng hai chìa của anh và ông Lễ. Ngăn tủ trượt ra, kêu rít. Bên trong chỉ có một cái hộp gỗ cẩm lai, cỡ bàn tay, nắp chạm hai trái lựu nứt vỏ.
Duật đặt cái hộp lên tấm nỉ trước mặt Ngàn. Anh không mở. Anh nhìn ông nội.
– Mở đi. – Ông nói.
Lớp nhung lót trong hộp màu đỏ đô, đã bạc chỗ gấp. Nằm trên lớp nhung là một mặt dây chuyền vàng, khung hình giọt nước, chạm một vòng hoa lựu nhỏ. Giữa khung là một viên đá đỏ hình bầu dục, to bằng đầu ngón cái.
Màu đỏ đó, dưới ánh đèn hầm, đẹp tới mức có lỗi. Đỏ như máu bồ câu, như ruột trái lựu chín. Đỏ đều từ mép này qua mép kia, không một vệt nhạt, không một đốm mờ.
Ngàn đã biết nó là đá tổng hợp. Cả nhà này biết. Cô vẫn phải ngồi yên ba giây cho tay mình thôi run rồi mới cầm nhíp.
– Bà nhà tôi đặt tên nó là Hạt Lựu. – Ông Tường nói, không nhìn viên đá, nhìn lên trần. – Viên thật, ý tôi là vậy. Cái này là cái xác của nó.
Ngàn bắt đầu. Đo kích thước bằng thước kẹp: mười ba phẩy một, mười phẩy chín, sâu sáu phẩy tư li. Cô nhẩm trong đầu, ra khoảng tám carat bảy. Khúc xạ kế: một phẩy bảy sáu hai, một phẩy bảy bảy không. Đúng chỉ số của hồng ngọc, và đúng luôn chỉ số của hồng ngọc làm trong lò. Hai thứ đó giống nhau về hóa học tới từng nguyên tử. Thứ khác nhau là con đường chúng lớn lên.
Cô đặt mặt dây vào kính hiển vi, bật đèn nền tối, chỉnh tiêu cự.
Trong lòng viên đá là những đường cong mảnh, song song, đều như rãnh của một cái đĩa hát. Đá tự nhiên lớn lên trong lòng núi qua cả triệu năm, vân của nó thẳng, gãy góc, theo hình lục giác. Đá trong lò lớn lên từ một giọt nóng chảy rơi xuống, xoay tròn, nên vân của nó cong. Giữa mấy đường cong là vài cái bọt khí tròn xoe như trứng cá, thứ không bao giờ có trong đá của núi.
– Hồng ngọc tổng hợp, phương pháp nung chảy ngọn lửa. – Cô nói, giọng mình nghe xa như của người khác. – Vân sinh trưởng cong, có bọt khí. Kết luận này trùng với kết luận đã có.
Ông Lễ chặc lưỡi.
– Thì vậy. Có ai nói khác đâu.
Ngàn chưa ngẩng lên. Cô xoay mặt dây, đưa phần ổ chấu vào giữa vùng sáng.
Sáu chấu vàng ôm viên đá đỏ. Đầu chấu tròn, giũa bóng, nhìn bằng mắt thường không có gì lạ. Cô tăng độ phóng đại lên bốn mươi lần.
Đầu mỗi chấu ngắn hơn mức người ta vẫn làm cho một viên đá cỡ này. Chỗ mặt cắt, nếu nhìn thật kỹ, còn một đường gờ mảnh như sợi chỉ, nơi lưỡi kìm cắt đã ăn vào vàng trước khi giũa đi. Ở mặt trong của chấu thứ hai và chấu thứ năm, có ba vết lằn song song, cạn, đều nhau. Răng của một cái kìm mỏ nhọn. Người kẹp không lót da vào miệng kìm.
Cô biết vì sao một chấu bị cắt ngắn. Muốn lấy viên đá ra khỏi một ổ chấu móc câu, không có cách nào khác ngoài cắt cái móc. Ba đã nói vậy, năm cô sáu tuổi, khi cô làm rớt hạt cườm đỏ ra khỏi cái nhẫn đồng và đòi ba gắn lại. Ba cười: "Chấu của ba, ba gắn rồi thì phải cắt mới ra. Cắt rồi thì phải làm cái chấu mới."
Ba chưa bao giờ để lại vết kìm trên vàng. Ba lót da miệng kìm, kể cả khi làm nhẫn đồng cho con.
Cái ổ chấu dưới kính hiển vi này đã bị một người cắt ra, rồi bị một người, có thể là chính người đó, uốn lại cho tròn, giũa vội, kẹp mạnh tay.
Không phải tay ba.
– Cô Ngàn? – Ông Tường gọi.
Cô nhận ra mình đã nín thở. Cô thở ra, chậm, và ngẩng lên.
– Dạ. Ổ chấu này có dấu hiệu từng bị cắt chấu để tháo đá, rồi gắn lại. Có vết kìm ở chấu hai và chấu năm. Con xin ghi vô biên bản.
Im lặng. Cái máy hút ẩm ở góc hầm kêu ù ù.
– Thì đó. – Ông Lễ nói, giọng to hơn cần thiết. – Thằng ăn cắp nó cắt chấu lấy đá thật ra, gắn đá giả vô. Chuyện ai cũng biết. Cô ghi vô thì cũng là ghi lại chuyện ai cũng biết.
Ngàn cắn môi. Cô muốn nói: nếu là người thợ làm cái ổ chấu này tự tráo, anh ta sẽ làm lại chấu móc câu cho y như cũ. Vì đó là tay của anh ta, và vì không ai được biết là nó từng bị cắt. Người gắn lại cái này không làm được chấu móc câu. Người gắn lại cái này là một người khác.
Cô không nói. Nói ra là phải giải thích vì sao cô biết người thợ đó làm chấu kiểu gì.
– Ghi vô. – Ông Tường nói. Giọng ông khàn hơn lúc nãy. – Ghi đúng như cô thấy.
Bà Tuệ quay mặt đi. Ngàn thấy bà nhìn lên mấy bậc cầu thang sắt, như người muốn ra khỏi chỗ này ngay lập tức mà không được.
Ông Tường bảo Duật đóng hộp. Ông không nhìn viên đá lần nào nữa.
Chiều đó Ngàn làm thêm bốn món, sai số đo hai lần, Bửu phải nhắc. Năm giờ, Duật bảo Bửu về trước, rồi đứng đợi cô thay áo blouse.
– Tôi đưa cô về.
– Em đi xe ôm được.
– Cô đặt cây nhíp xuống sai chỗ bốn lần từ trưa tới giờ. – Anh nói. – Tôi đưa cô về.
Xe của anh là một chiếc xe hơi bốn chỗ màu xám, cũ hơn cô tưởng, trong xe thơm mùi da và mùi nhựa thông, hình như từ cái hộp dụng cụ đặt dưới ghế sau. Đường Hai Bà Trưng giờ tan tầm kẹt cứng. Mưa đầu mùa lắc rắc, mấy hột mưa to bằng hạt bắp lăn trên kính xe.
Hai người im lặng gần hết đoạn đường. Ngang chợ Tân Định, Duật nói, mắt vẫn nhìn đường.
– Cô muốn biết chuyện cái mặt dây.
Không phải câu hỏi. Ngàn không trả lời.
– Nhà tôi không ai kể chuyện đó đàng hoàng. Tôi nghe từng mẩu. – Anh nói. – Năm chín mươi tám, bà nội tôi mừng thọ sáu mươi. Ông nội đặt người thợ cả của tiệm làm cái mặt dây đó cho bà, gắn viên Hạt Lựu ông mua ở Lục Yên mấy năm trước. Tới tiệc thọ, có người bạn buôn đá của bà nhìn ra màu không đúng. Người ta mời một giám định viên tới. Đá giả.
Mưa lớn dần. Cần gạt nước quét qua quét lại.
– Người cuối cùng cầm viên đá là người thợ cả. – Duật nói. – Ông nội không báo công an. Ông nói người đó là thợ giỏi nhất ông từng có, ông không nỡ. Ông cho nghỉ việc. Chuyện trong nghề lan nhanh, chắc sau đó người ta không còn chỗ nào làm. Nhà tôi gọi cái mặt dây là "món nợ không đòi". Ông nội giữ nó để nhớ, ông nói vậy.
Xe quẹo vào đường Cách Mạng Tháng Tám. Còn hai ngã tư nữa là tới đầu hẻm Bàn Cờ.
Ngàn nhìn ra cửa kính, nhìn mấy hột mưa chạy ngang, chạy chéo, gặp nhau rồi rơi.
– Người thợ đó tên gì? – Cô hỏi.
Cô biết câu trả lời. Cô đã biết từ năm mười tuổi. Cô vẫn muốn nghe nó từ miệng một người trong nhà này, bằng giọng bình thường, giữa mùi da xe và tiếng mưa.
Duật dừng xe ở đèn đỏ. Anh quay sang nhìn cô, lần đầu tiên từ lúc lên xe.
– Toản. – Anh nói. – Ông nội gọi là anh Toản. Sao cô hỏi?
— Hết chương 4 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe