Chương 20: Sáu chấu móc câu
Năm giờ sáng một ngày cuối tháng Chạp, chợ Bà Chiểu chưa mở. Ông Tường đã ngồi trên xe lăn ở lề đường trước tòa nhà Âu Kim, tay trái cầm ly cà phê đen, nhìn qua ô kính tầng trệt.
Chị Út đứng sau lưng ông, khoác cái áo len cũ, ngáp. Bác sĩ dặn không được ra gió sớm. Ông nói gió tháng Chạp ở Sài Gòn không phải gió, là hơi thở. Chị Út cãi không lại.
Trong ô kính, chỗ năm mươi năm trước có cái tủ kính đầu tiên, bây giờ có một cái tủ nhỏ, cao ngang ngực, kính bốn mặt, đèn vàng dịu. Không nhẫn cưới, không bảng giá. Bên trong chỉ có một mặt dây chuyền vàng, khung hình giọt nước chạm một vòng hoa lựu, ở giữa là một viên đá đỏ hình bầu dục, to bằng đầu ngón cái.
Sáu chấu vàng ôm viên đá. Đầu chấu nào cũng vát một bên, cong vào trong, thành một cái móc nhỏ xíu.
Dưới chân mặt dây có một tấm bảng đồng nhỏ, chữ khắc tay:
"Mặt dây Hạt Lựu. Làm lần đầu năm 1998, thợ cả Đinh Văn Toản. Gắn lại năm 2026. Thợ cả tiệm Âu Kim từ 1990 tới 1998: Đinh Văn Toản."
Không có tên người gắn lại. Duật không cho ghi.
Anh mất mười một tuần. Từ đêm thứ chín làm được một cái chấu đúng trên dây đồng, tới đêm anh dám đặt cái giũa kim lên khung vàng thật, là thêm năm tuần nữa. Ngàn ngồi bên cạnh gần như mọi đêm, tay cầm kính lúp, soi từng cái chấu anh giũa xong. Cái nào chưa được, cô lắc đầu. Anh cắt ra, làm lại. Ngón trỏ tay phải của anh có thêm ba vết phỏng nhỏ, cạnh vết sẹo hình hạt đậu cũ trên tay trái.
Đêm cuối cùng, khi cái chấu thứ sáu ôm xong mép viên Hạt Lựu, anh đưa cái mặt dây cho cô soi. Cô soi rất lâu. Rồi cô đưa nó cho chú Bảy, ngồi ở góc xưởng từ chín giờ tối. Chú Bảy soi lâu hơn. Rồi chú đưa nó cho một người đàn ông ngồi ở bàn bên cạnh, người đã kéo ghế tới từ lúc nửa đêm, không ai mời.
Ông Lễ cầm cái mặt dây trong bàn tay to bè của mình, xoay dưới đèn, nhìn mặt trong của từng cái chấu. Không vết kìm nào.
– Lót da. – Ông nói.
– Dạ, lót da. – Duật nói.
Ông Lễ đặt cái mặt dây xuống, rất nhẹ, rồi đứng dậy đi về phòng mình. Ông không còn là giám đốc xưởng. Tháng Mười ông tự xin thôi, rồi xin ở lại làm thợ, ngồi cái bàn sát cửa sổ cuối tầng hai. Thợ mới vô xưởng bây giờ được ông dặn câu đầu tiên: lót da miệng kìm. Cây kìm mỏ nhọn răng mòn của ông nằm trong một ngăn kéo khóa lại. Vịnh nói ba ảnh không vứt, cũng không dùng nữa.
Ông Tường uống hết ly cà phê. Ông nhìn cái tủ kính nhỏ thêm một lúc, rồi gật đầu với chị Út.
– Về.
Mười giờ sáng Chủ nhật, bà Tuệ ngồi trên cái ghế nhựa đỏ thấp lè tè ở xe chè của bà Tư, đầu hẻm Bàn Cờ.
Bà ăn chè đậu trắng bằng cái muỗng nhôm méo, không lau. Ăn được nửa chén, bà dừng lại, nhìn vào chén chè như nhìn vào kính hiển vi.
– Mặn. – Bà nói.
– Nước cốt dừa có muối. – Má Ngàn ngồi cái ghế bên cạnh, cũng cầm một chén. – Chè miền Nam phải mặn một chút mới ra ngọt.
– Ai dạy chị vậy?
– Bà Tư.
Bà Tư cười hà hà, vỗ đùi.
Đây là Chủ nhật thứ năm bà Tuệ tới. Bà tới một mình, đi taxi, mặc áo bà ba, đội nón lá. Bà ngồi ăn một chén chè với má, nói chuyện giá vải, chuyện mưa trễ, chuyện cái lai quần tây bây giờ người ta may kiểu gì. Không ai nhắc chuyện cũ. Ăn xong, bà trả tiền cả hai chén, đứng dậy về. Má không mời bà vô nhà. Bà cũng không xin vô.
Chủ nhật đầu tiên, Ngàn hỏi má sao má ngồi ăn chè với bà đó. Má đạp máy may một đường dài rồi nói: "Người ta tới thì mình ngồi. Ngồi một chén chè thì có sao." Rồi má nói thêm: "Ba con mà còn chắc cũng ngồi."
Những tháng đó trôi qua như một người thợ đánh bóng một món đồ cũ: chậm, kỹ, từng lớp.
Diệp Anh nhận ghế tổng giám đốc điều hành từ tháng Mười. Việc đầu tiên cô ta làm là thuê một phòng giám định độc lập, kiểm lại toàn bộ hàng tồn kho của ba mươi mấy cửa hàng, rồi công bố kết quả. Việc thứ hai là dời phòng làm việc của mình từ tầng bảy xuống tầng sáu, sát phòng pháp chế, nói cho tiện cãi nhau. Lần cuối Ngàn gặp cô ta, ở một buổi họp về quy trình giám định hàng nhập, Diệp Anh nói: "Chị Ngàn, phòng chị báo giá đắt hơn hai phòng kia mười lăm phần trăm. Tôi vẫn chọn phòng chị. Ghi vô biên bản là vì chị soi kỹ, không phải vì chị là ai." Rồi cô ta ký.
Di chúc được đọc chiều hai mươi tháng Chín ở nhà tổ, muộn hơn dự định bốn tiếng. Phần cổ phần, ông Tường để lại một phần nhỏ của mình lập một quỹ học nghề cho con của thợ, mang tên Đinh Văn Toản. Má Ngàn không tới nghe đọc. Má nói chuyện tiền bạc nhà người ta, mình không ngồi. Phần đồ trong hầm, Diệp Anh cho làm lại hợp đồng. Hai trăm mười bốn món, phòng thử nghiệm Hà Nội kiểm ngẫu nhiên ba mươi món Ngàn đã làm, khớp hết. Phòng chú Bảy được thuê làm tiếp sáu mươi hai món còn lại. Tờ khai xung đột lợi ích lần này, câu thứ ba, Ngàn đánh dấu vào ô "có", ghi rõ tên ba, và Diệp Anh ký duyệt ngay bên dưới.
Một nửa số khách đem nhẫn tới đòi bán lại hồi tháng Tám đã quay lại, mua thêm. Nửa kia không quay lại. Duật nói vậy là được.
Chú Bảy Lộc trả lại cho Ngàn toàn bộ số tiền cô trả chú mấy năm nay, vẫn cất y trong ngăn kéo. Khoản tiết kiệm chú rút ra trả tạm ứng hồi đó thì Âu Kim chuyển lại đủ, kèm một lá thư xin lỗi có chữ ký của Diệp Anh. Chú đem hết đi mua một cái kính hiển vi mới, hai thị kính trong veo, rồi ngồi soi đá cả buổi chiều như đứa con nít được quà. Bửu được tăng lương. Cậu dùng tháng lương đầu tiên mời cả phòng ăn hủ tiếu Nam Vang, gọi mỗi người hai tô.
Ông Năm Hỷ mất vào tháng Mười Một, tám mươi chín tuổi ta, nhẹ nhàng, trong giấc ngủ trưa. Ngàn với Duật đi đám. Lữ Khải đưa cho cô một cái ấm trà đất nung nhỏ, nói ông nội dặn: đưa cho con nhỏ giám định, nói với nó là tôi xin lỗi người thợ cúi đầu chào tôi.
Đêm hai mươi ba tháng Chạp, đưa ông Táo, hẻm Bàn Cờ nồng mùi nhang, mùi giấy tiền vàng bạc đốt trong mấy cái thau nhôm trước cửa từng nhà. Con nít chạy giỡn, la hét. Nhà ai đó mở nhạc xuân sớm, cái loa rè rè.
Ngàn ngồi ở bậc thềm trước hiên. Cái lõm nhỏ ở mép bậc, chỗ ba hay kê cái đe sắt, vẫn còn đó, đọng một chút tàn nhang.
Duật ngồi xuống cạnh cô. Anh mặc áo thun xám, quần kaki, mùi xưởng còn vương trên áo. Anh mới đi từ Phan Văn Trị về, sau giờ thợ ca đêm vào.
– Ông nội gửi lời hỏi thăm mẹ em. – Anh nói. – Ông nói Tết này ông muốn qua đây ăn chè. Chị Út nói xe lăn không vô được hẻm ba mét. Ông nói vậy thì khiêng.
– Má em nói được thì để ông ngồi đầu hẻm. – Ngàn nói. – Bà Tư dọn cho một cái ghế.
Duật cười. Rồi anh im lặng một lúc lâu, nhìn đám con nít đốt pháo bông que ở cuối hẻm, mấy đốm lửa nhỏ xẹt xẹt trong bóng tối.
Anh thò tay vào túi quần, lấy ra một cái túi vải nhỏ. Túi vải xám, rút dây, giống y cái túi anh đựng chiếc nhẫn saphia của bà nội ngày đầu tiên tới phòng giám định.
Anh rút dây, dốc ra lòng bàn tay cô một chiếc nhẫn.
Vàng, bản nhỏ, trơn, không chạm trổ. Ở giữa là một hạt đá đỏ, nhỏ thôi, cỡ hạt tiêu, màu đỏ có hồn, đậm ở giữa nhạt về mép.
– Lục Yên. – Duật nói. – Anh tự đi mua, ở chợ đá đầu tháng Mười Một, lúc em tưởng anh đi Hà Nội họp. Không xử lý nhiệt. Không mẻ. Em soi đi.
Ngàn không nói gì. Cô rút cái kính lúp mười lần trong túi áo ra. Cô luôn mang nó theo. Cô đưa chiếc nhẫn lên dưới ánh đèn đường vàng vọt, nghiêng đầu.
Sáu chấu. Đầu chấu nào cũng vát một bên, cong vào trong, thành một cái móc nhỏ xíu, ôm lấy mép hạt đá đỏ như sáu ngón tay khum lại.
Cô xoay chiếc nhẫn, nhìn mặt trong của từng cái chấu. Không vết kìm nào.
– Lót da. – Cô nói.
– Lót da.
– Chấu thứ tư hơi dày.
– Anh biết. – Duật nói. – Anh làm sáu lần cái chấu đó. Lần thứ bảy thì anh sợ gãy cái khung.
Cô hạ cái kính lúp xuống. Cô nhìn anh.
– Anh hỏi đi. – Cô nói.
– Em chưa nói em chịu.
– Anh hỏi thì em mới nói được.
Duật nhìn cô, rồi nhìn chiếc nhẫn trong tay cô, rồi nhìn cánh cửa sắt sau lưng cô, nơi ánh đèn kẹp bàn máy may vẫn còn sáng, tiếng máy đạp đều đều vừa ngưng lại từ lúc nào.
– Ngàn, – anh nói, – em lấy anh nhé.
Trong nhà, có tiếng ghế kéo. Rồi tiếng má, không lớn, như mọi khi:
– Có chè đậu trắng bà Tư để phần trong tủ lạnh. Hai đứa vô ăn đi rồi hẵng nói. Ngoài đó muỗi.
Ngàn bật cười. Cô gật đầu, một cái, rồi đưa bàn tay trái ra cho anh.
Anh đeo chiếc nhẫn vào ngón áp út của cô. Hơi rộng một chút. Anh cau mày, nói mai đem về nong lại. Cô không cho. Cô tháo sợi dây chuyền trên cổ xuống, lấy chiếc nhẫn đồng của ba ra, đeo nó vào ngón út bên cạnh. Chiếc nhẫn đồng nhỏ, vừa khít ngón út của một người lớn, như ngày xưa nó vừa khít ngón áp út của một đứa nhỏ sáu tuổi.
Hai chiếc nhẫn nằm cạnh nhau trên bàn tay cô dưới ánh đèn đường. Một bằng vàng, một bằng dây đồng. Một hạt đá Lục Yên, một hạt cườm đã trầy. Mười hai cái chấu móc câu, sáu cái làm năm hai ngàn lẻ ba, sáu cái làm năm hai ngàn hai mươi sáu.
Cô lắc tay thử. Lắc mạnh.
Không hạt nào rớt.
— Hết —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe