Chương 2: Ly trà nguội ở nhà tổ
Cổng nhà họ Âu sơn màu xanh rêu, hai cánh sắt cao quá đầu người, trên đầu cổng là hai cây xoài cát chìa tán ra tận lề đường Phan Đình Phùng. Trái non lủng lẳng từng chùm, có trái rụng nằm dập dưới chân tường, kiến bu đen.
Ngàn đứng trước cái cổng đó lâu hơn cần thiết. Tài xế đã bấm chuông, cánh cổng nhỏ đã mở, mà chân cô vẫn chưa nhấc.
Tối qua má không nói thêm câu nào. Má lượm cây kim dưới đất lên, cắm lại vào gối kim, may tiếp cái lai quần cho tới mười một giờ đêm. Sáng nay lúc Ngàn đi, má đang quét sân, chổi chà cạ xuống nền xi măng từng nhát dài. Má không ngẩng lên. Cô nói "con đi nha má", má "ừ", vậy thôi.
Ba con đã đứng trước cổng nhà đó một lần rồi.
Cô nhìn mấy song sắt, tự hỏi ba đã đứng ở đâu, bên trái hay bên phải, dưới cây xoài nào.
– Cô Ngàn. – Duật đi ra từ trong sân, mặc áo thun xám, quần kaki, tay cầm hai ly trà đá. Không còn dáng phó tổng giám đốc. – Trời nóng. Cầm đỡ ly này đi rồi hẵng vô. Trong nhà nóng hơn.
– Máy lạnh hư hả anh?
– Không. Mẹ tôi ở trong đó.
Cô cầm ly trà. Đá lạnh buốt lòng bàn tay, kéo cô về lại cái sân.
Nhà tổ là một căn biệt thự kiểu cũ, xây hồi đầu những năm chín mươi, mái ngói đỏ, cửa sổ chớp gỗ sơn trắng. Không lộng lẫy như cô tưởng. Phòng khách lát gạch bông hoa văn xanh, bộ bàn ghế gỗ cẩm lai đã lên nước. Trên tường treo một tấm ảnh trắng đen: một cái tủ kính nhỏ xíu cạnh chợ, một người đàn ông trẻ đứng chống nạnh cười, bên cạnh là người vợ ôm đứa con đỏ hỏn. Dưới ảnh ghi bằng bút lông: Tiệm Âu Kim, 20 tháng 9 năm 1976.
Bà Lưu Mỹ Tuệ ngồi ở đầu ghế dài, lưng thẳng, áo lụa màu tro, tóc búi gọn, không một sợi bạc nào lọt ra. Năm mươi tám tuổi mà nhìn chỉ như bốn mươi lăm. Bà không đứng lên khi Ngàn vào.
– Cô ngồi. – Bà nói. – Cô uống trà nóng hay trà đá?
– Dạ con có trà rồi.
– Trà đá ngoài cổng là của Duật. – Bà nhấc ấm, rót một chén trà nóng, đẩy về phía Ngàn. – Trong nhà này mình uống trà nóng.
Ngàn đặt ly trà đá xuống, cầm chén trà nóng lên. Trà ô long, pha đặc, nóng bỏng đầu lưỡi. Cô uống một ngụm, đặt xuống, không nhăn mặt.
Bà Tuệ nhìn cô như nhìn một viên đá dưới đèn.
– Cô bao nhiêu tuổi?
– Dạ hai mươi chín.
– Học giám định ở đâu?
– Dạ đại học bên Địa chất, rồi học nghề với chú Lý Văn Lộc ở Tân Định. Có lấy chứng chỉ giám định đá màu bên Bangkok năm hai ngàn mười chín.
– Bangkok. – Bà lặp lại, không rõ khen hay chê. – Ba má cô làm nghề gì?
– Má con sửa đồ may. Ba con mất rồi.
– Ông nhà làm nghề gì?
Duật ngồi ở ghế đối diện, đặt ly trà đá của mình lên bàn, đúng lúc đó.
– Mẹ, cô Ngàn tới làm việc, không phải tới coi mắt.
– Mẹ hỏi thì cô ấy trả lời. – Bà Tuệ không quay đầu. – Trong nhà mình, người cầm đồ của mình phải là người mình biết gốc gác.
Ngàn đặt hai tay lên đầu gối.
– Dạ, ba con làm thợ bạc.
Một nhịp ngắn. Ngắn tới mức nếu không để ý thì sẽ không thấy. Ngàn để ý. Cô thấy ngón tay bà Tuệ đang mân mê cái quai chén trà dừng lại, rồi lại tiếp tục.
– Thợ bạc. – Bà nói. – Ở Sài Gòn này thợ bạc nhiều lắm.
– Dạ nhiều.
Bà không hỏi thêm. Bà quay sang Duật, nói về chuyện giờ giấc ra vào hầm, ai giữ chìa, ai ký sổ. Giọng bình thường. Ngàn ngồi nghe, chén trà nguội dần trong tay.
Từ hành lang bên hông, một cô gái đi vào, kẹp dưới nách một bìa hồ sơ dày. Tóc ngắn ngang cằm, sơ mi trắng, quần tây đen, đôi giày đế bằng gõ xuống gạch bông nghe chắc nịch.
– Con chào bác. Chào anh Duật. – Cô gái quay sang Ngàn, đưa tay ra bắt. Bàn tay khô và mạnh. – Hứa Diệp Anh, pháp chế. Tôi là người soạn hợp đồng của chị.
– Đinh Thục Ngàn.
– Tôi biết. – Diệp Anh ngồi xuống cạnh bà Tuệ, tự nhiên như người trong nhà, mở bìa hồ sơ. – Hợp đồng anh Duật đưa chị hôm qua là bản chính. Còn một phụ lục bắt buộc với mọi bên thứ ba làm việc với tài sản của gia đình. Tờ khai xung đột lợi ích. Chị đọc kỹ rồi ký.
Tờ giấy có năm câu hỏi, mỗi câu hai ô "có" và "không". Câu thứ ba viết: "Bên được thuê, hoặc người thân của bên được thuê, có quan hệ họ hàng, hôn nhân, lao động, hay tranh chấp với gia đình Âu hoặc nhân viên, cựu nhân viên của Công ty Âu Kim hay không?"
Ngàn đọc câu đó hai lần.
Diệp Anh rót trà, không nhìn cô, nhưng Ngàn biết cô ta đang chờ. Bà Tuệ thì nhìn ra cửa sổ. Duật nhìn cái ly trà đá đang rỉ nước xuống mặt gỗ.
Nếu đánh "có", người ta sẽ hỏi là ai. Nếu nói tên ba, cánh cửa hầm dưới đường Lê Quang Định sẽ đóng trước mặt cô, và món đồ duy nhất cô cần xem sẽ không bao giờ được đặt lên tấm nỉ. Mười chín năm nay, chưa ai trong nhà này hỏi má cô sống ra sao. Không ai trong nhà này có quyền hỏi cô câu đó.
Cô đánh dấu vào ô "không". Ký tên. Ghi ngày.
Diệp Anh cầm tờ giấy lên, đọc lướt, bỏ vào bìa.
– Chị để ý điều tám giùm tôi. – Cô ta nói, giọng nhẹ như nhắc giờ họp. – Khai không đúng thì hợp đồng vô hiệu từ đầu, chị hoàn lại toàn bộ phí, và mọi kết quả giám định của chị không có giá trị. Tôi soạn kỹ điều đó vì lần trước nhà này mướn người ngoài, người đó là cháu họ của một bên.
– Tôi hiểu.
– Tôi chắc chị hiểu. – Diệp Anh mỉm cười, kiểu cười của người đã biết trước câu trả lời và chỉ đang ghi lại cho đủ biên bản. – Chị là người đầu tiên anh Duật chọn mà không hỏi ai.
Câu đó không nói với Ngàn. Câu đó nói với bà Tuệ. Bà Tuệ nhấp trà.
– Ông nội muốn gặp cô ấy. – Duật đứng lên. – Ông ngồi ngoài vườn sau.
Vườn sau rộng hơn Ngàn tưởng. Có một cái hồ nhỏ, rêu bám thành, vài con cá chép bơi lờ đờ. Một giàn bông giấy đỏ phủ kín bức tường rào. Dưới gốc khế, một ông già ngồi xe lăn, mền mỏng đắp ngang đùi, đang bóc đậu phộng luộc bỏ vào cái tô sứ.
Ông Âu Thành Tường gầy, da mỏng như giấy, đồi mồi lấm tấm hai mu bàn tay. Nhưng mắt ông còn tinh. Ông nhìn Ngàn đi từ cửa sau tới gốc khế, hết mười mấy bước, không chớp.
– Con chào ông.
– Ngồi. – Ông chỉ cái ghế nhựa. Giọng ông hơi lệch một bên vì cơn đột quỵ, chữ "ngồi" nghe như "ngùi". – Đưa tay đây tôi coi.
Ngàn chần chừ một giây, rồi đưa tay phải ra.
Ông cầm bàn tay cô, lật ngửa, lấy ngón cái miết vào đầu ngón giữa, chỗ có vết chai nhỏ do cầm nhíp. Rồi miết qua cạnh ngón trỏ, chỗ có một vết sẹo mờ như sợi chỉ.
– Sẹo này đứt tay bằng gì?
– Dạ, con mài đá hồi mới học, đá trượt khỏi kẹp.
– Học mài đá trước rồi mới học soi đá. – Ông gật gù. – Ai dạy cô kiểu đó? Bây giờ tụi trẻ học soi trước, học máy trước, có đứa cả đời chưa cầm cái đá nào trong tay.
– Dạ, chú Lý Văn Lộc dạy con.
Ông Tường ngừng bóc đậu. Một hạt đậu nằm trong lòng bàn tay ông, vỏ lụa đỏ hồng.
– Lộc. – Ông nói. – Tôi biết Lộc.
– Chú Bảy có làm cho nhà mình hả ông?
– Không. Lộc có lần giám định cho nhà tôi. – Ông bỏ hạt đậu vào tô, lau tay vào mền. – Lâu rồi.
Duật đứng sau lưng Ngàn, cô không thấy mặt anh, nhưng cô nghe anh đổi chân.
– Thằng Duật nói cô đòi xem hết hai trăm mười bốn món, không bỏ món nào. – Ông nói. – Đúng không?
– Dạ đúng.
– Kể cả món nhà tôi không muốn ai xem?
– Dạ, nhất là món đó.
Ông Tường nhìn cô một hồi. Rồi ông bật cười, tiếng cười khàn và đứt quãng, như cái quạt trần cũ quay mấy vòng mới chạy.
– Bà nhà tôi mà còn, chắc bả thích cô. – Ông vẫy tay. – Thôi, đi đi. Thứ Hai bắt đầu. Có gì khó thì nói thằng Duật. Thằng Duật không xử được thì nói tôi.
Lúc Ngàn quay ra, một thanh niên đi ngược từ nhà vào vườn, tay cầm cái hộp bánh pía, áo sơ mi hoa nhỏ, tóc vuốt keo, mặt sáng sủa như người mẫu quảng cáo kem đánh răng. Anh ta dừng lại trước mặt Ngàn, cúi đầu chào rất đúng kiểu.
– Chắc đây là chị giám định mà anh Duật đi lùng cả tháng. – Anh ta đưa tay. – Âu Gia Vịnh. Em họ ổng. Con chú Ba.
– Chào anh.
– Đừng gọi anh, em nhỏ hơn ổng mà. Gọi Vịnh. – Anh ta nghiêng đầu, cười. – Ba em nói phòng giám định nhỏ thì làm kỹ. Ba em cũng nói phòng nhỏ thì dễ… nói chuyện. Hôm nào chị rảnh em mời chị cà phê, em muốn nghe chị nói chuyện.
– Anh Vịnh, – Duật nói từ phía sau, giọng phẳng lì. – Bánh pía của ông nội chảy mỡ ra tay kìa.
Vịnh cười to, giơ hộp bánh lên chào, rồi đi về phía gốc khế. Ngàn nghe sau lưng tiếng anh ta gọi "Nội ơi, bánh pía sầu riêng nè nội", giọng ngọt như đường phèn.
Duật đưa cô ra cổng. Ngang phòng khách, bà Tuệ đã đứng dậy, cầm bìa hồ sơ của Diệp Anh đọc gì đó. Diệp Anh đứng bên cạnh, nói nhỏ vào tai bà. Thấy Ngàn đi ngang, cả hai cùng ngưng.
– Duật. – Bà Tuệ gọi. – Con vô đây mẹ hỏi chuyện hợp đồng thuê kho. Mẹ tiễn cô Ngàn cho.
Duật nhìn mẹ, rồi nhìn Ngàn, như muốn nói gì. Rồi anh gật đầu, đi vào trong.
Bà Tuệ đi trước Ngàn ra sân. Đôi guốc gỗ của bà gõ trên lối gạch tàu, tiếng đều như tiếng gõ mõ. Tới dưới tán xoài, bà dừng. Ánh nắng lọt qua kẽ lá rớt lên vai áo lụa màu tro của bà thành những đốm vàng nhỏ.
– Cô Ngàn.
– Dạ.
– Cô uống trà nóng không nhăn mặt. – Bà nói. – Người ta tới nhà này, mười người thì chín người xin đổi qua trà đá.
– Dạ, má con nói vô nhà ai thì uống trà nhà đó.
– Má cô dạy con kỹ.
Bà nhìn lên chùm xoài non trên đầu, rồi nhìn xuống cô. Đôi mắt bà không lạnh. Ngàn đã chuẩn bị cho một đôi mắt lạnh, và cô thấy mình không chuẩn bị cho đôi mắt này: mệt, và có cái gì đó như là sợ.
– Tôi biết cô là ai. – Bà Tuệ nói, nhỏ tới mức tiếng xe ngoài đường suýt nuốt mất.
Rồi bà quay vào, guốc gõ trên gạch tàu, không nhanh không chậm.
Cánh cổng nhỏ khép sau lưng Ngàn. Cô đứng trên lề đường Phan Đình Phùng, giữa mấy trái xoài rụng dập, tay còn hơi run. Bên kia đường, một chị bán bánh mì đẩy xe ngang, rao "bánh mì nóng giòn đây". Cô nhìn xuống chân mình, xuống mấy viên gạch lát lề đã mòn.
Mười chín năm trước, ba cô đã đứng đây. Có thể đúng chỗ này. Có thể đúng viên gạch này.
Và người đàn bà vừa quay lưng vào trong kia, cô chợt nghĩ, có thể đã đứng sau cánh cổng, nhìn ra.
— Hết chương 2 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe