Chương 19: Năm mươi năm Âu Kim
Bảy giờ năm mươi sáng ngày hai mươi tháng Chín, phòng họp tầng bảy của tòa nhà trên đường Lê Quang Định có mười một người.
Ông Lễ ngồi đầu bàn, chỗ của chủ tọa. Áo vest đen, cà vạt đỏ, tóc chải gọn, cạo râu nhẵn. Trước mặt ông là một xấp giấy đóng ghim và một cây bút ký. Ông đã ngồi đó từ bảy giờ.
Bên trái ông là thím Ba, cúi mặt. Vịnh ngồi cuối dãy bên đó, cách mẹ mình hai ghế trống. Bên phải là bà Tuệ, áo dài lụa màu tro như hôm đầu tiên Ngàn gặp, chuỗi ngọc trai nuôi sáu mươi hai hạt trên cổ. Duật ngồi cạnh mẹ. Cô Út Hân ngồi giữa, không bên nào, kính đẩy lên trán, tay cầm một ly trà gừng.
Diệp Anh ngồi bàn nhỏ cạnh cửa sổ, máy tính mở, hai tập hồ sơ bìa xanh dày cộm đặt bên cạnh.
Ba cái ghế còn lại kê sát tường: Ngàn, chú Bảy Lộc, và Lữ Khải. Ông Năm Hỷ ngồi trên xe lăn cạnh cháu nội, mặc bộ áo the đen, đội mũ nồi, hai tay chống lên cây gậy trúc.
– Tôi không mời mấy người này. – Ông Lễ nói, chỉ về phía tường.
– Con mời. – Duật nói. – Hội đồng gia tộc không có điều lệ nào cấm người làm chứng. Diệp Anh, đúng không?
– Đúng. – Diệp Anh nói, không ngẩng lên.
Ông Lễ nhìn cháu một hồi, rồi phẩy tay.
– Được. Ngồi đó thì ngồi. – Ông gõ cây bút xuống bàn. – Tôi nói ngắn, vì mười giờ còn việc. Ba mình hai lần đột quỵ, nói không ra chữ, cả tháng nay không đi đứng được. Những gì ba ký, ba nói trong tình trạng đó, tôi không dám chắc là ý ba. Âu Kim năm mươi năm, ba mươi mấy cửa hàng, sáu chục thợ, đang bị báo chí bêu tên. Công ty cần một người đứng ra ngay bây giờ, trước khi chuyện vỡ thêm. Tôi đề nghị hội đồng thống nhất đề cử tôi làm chủ tịch, đưa ra đại hội cổ đông tuần sau. Bỏ phiếu.
– Khoan. – Cô Út Hân nói. Bà đặt ly trà gừng xuống. – Em đi từ Cần Thơ lên lúc bốn giờ sáng. Em không lên để bỏ phiếu trong năm phút. Em muốn nghe hết. – Bà quay sang bức tường. – Cô giám định. Cô nói đi. Nói cho tôi nghe như nói cho một người không biết gì, vì tôi không biết gì thật.
Ngàn đứng dậy.
Cô không mặc áo dài hôm nay. Cô mặc áo blouse trắng của phòng giám định, túi ngực có cây bút và cái kính lúp mười lần. Má nói: hôm nay con đi làm nghề, mặc đồ nghề.
Cô đặt lên bàn họp, trước mặt cô Út Hân, từng thứ một.
Một tấm ảnh in khổ lớn, ổ chấu của cái mặt dây trong hầm, bốn mươi lần. Ba vết răng kìm song song ở chấu hai và chấu năm. Đầu chấu cụt, giũa tròn.
Chiếc nhẫn saphia của bà nội, mượn từ két của ông Tường, bốn chấu móc câu.
Chiếc nhẫn đồng của ba cô, tháo khỏi cổ, sáu chấu móc câu, một hạt cườm đỏ.
– Người làm cái mặt dây năm chín tám làm chấu kiểu này. – Cô chỉ vào hai chiếc nhẫn. – Người gắn đá giả vô không làm được kiểu này, nên cắt chấu bằng kìm rồi uốn tròn. Hai tay thợ khác nhau. Thợ nào nhìn cũng thấy.
Cô đặt tiếp tờ phiếu giao thợ, giấy than màu xanh tím. "8,62 ct. Có mẻ gờ nhỏ vị trí 7 giờ."
Cô đặt tờ kết quả của phòng thử nghiệm Hà Nội. "Tám phẩy sáu hai carat. Có một vết mẻ nhỏ trên gờ."
Rồi cô đặt lên bàn bản vi bằng của thừa phát lại, kèm ảnh chụp gói giấy pơ-luya dưới đèn cực tím. Con dấu Hỷ Ký. Chữ ký giáp lai vắt ngang nếp lật. Mấy dòng bút chì: "Âu Thành Tường. Hồng bảo thạch một viên, 8 ly 62, có mẻ. Cầm 23-6-98. Hạn 18 tháng. Chính chủ ký."
– Ngày hai mươi ba tháng Sáu năm chín tám. – Ngàn nói. – Mười một tuần trước tiệc thọ. Chữ ký là của ông.
Cô Út Hân cầm tấm ảnh lên, đưa sát mắt, nhìn rất lâu.
– Chữ ba. – Bà nói, khẽ. – Chữ T của ba gạch dài như mái hiên.
– Cái đó chỉ nói ba đem đá đi cầm. – Ông Lễ nói, giọng to. – Không nói ai xúi. Chị Hai giữ sổ. Chị Hai hụt quỹ…
– Con xin nói về chuyện hụt quỹ. – Diệp Anh lên tiếng, đặt tay lên hai tập hồ sơ bìa xanh. – Đây là sổ quỹ ba năm chín bảy, chín tám, chín chín, bác Tuệ ghi tay, lấy từ kho lưu trữ. Tuần rồi đã được một công ty kiểm toán độc lập rà lại từng trang. Kết luận ở trang cuối: không có khoản cho vay nào ra ngoài, không có khoản chi nào không có chứng từ. Khoản một tỷ một trăm triệu ngày hai mươi tư tháng Sáu năm chín tám ghi là "ông chủ nộp vào", có chữ ký nhận của bác Tuệ. – Cô ta ngừng một chút. – Sổ sạch, chú Ba.
Ông Lễ không nói gì. Cô Út Hân quay về phía bức tường.
– Ông cụ đó là ai?
Lữ Khải cúi xuống nói to bên tai ông nội. Ông Năm Hỷ chống gậy, chậm chạp ngẩng đầu lên.
– Tôi là Năm Hỷ. Tiệm Hỷ Ký đường Lương Nhữ Học. – Ông nói, giọng Quảng pha Việt, từng chữ một. – Ông chủ Âu Kim đem viên hột lựu tới cầm. Ban đêm. Mưa. Đi một mình. Không có đàn bà. Ổng nói đừng cho ai biết, kể cả vợ, kể cả con. Tôi nhớ.
Không ai nói gì. Ông Lễ cầm cây bút lên, bỏ xuống, cầm lên.
– Mấy cái đó, – ông nói, giọng đã khác, – mấy cái đó là chuyện cũ. Chuyện bây giờ là ba không còn minh mẫn. Ba nằm nhà, nói không ra chữ…
Cửa phòng họp mở.
Chị Út đẩy xe lăn vào. Ông Tường ngồi trên xe, áo bà ba trắng, mền đắp đùi, tay trái cầm cây gậy gỗ gác ngang đầu gối. Bên mặt phải của ông xệ xuống, khóe miệng không khép. Nhưng ông ngồi thẳng.
Đi sau xe lăn là má Ngàn. Áo bà ba nâu, tóc búi, cái túi vải đeo vai.
Bảy giờ sáng, má đã đi xe buýt lên Phú Nhuận, đứng trước cổng nhà tổ. Ông Tường đã chờ má ở phòng khách, dưới tấm ảnh cái tủ kính năm bảy sáu. Ông nhờ má đi cùng. Má đi.
Cả phòng đứng dậy. Cả ông Lễ.
Chị Út đẩy xe tới đầu bàn, chỗ ông Lễ đang đứng. Ông Lễ nhìn ba mình. Rồi ông lùi lại một bước, kéo cái ghế chủ tọa ra, đẩy nó sát vào tường để chỗ cho xe lăn.
– Con nhỏ. – Ông Tường gọi.
Ngàn đi tới, đứng bên cạnh xe lăn, như đã hứa.
Ông Tường nói. Chữ ra chậm, méo, đứt quãng. Sau mỗi câu, ông dừng lại, và Ngàn nói lại câu đó, rõ ràng, từng chữ, không thêm không bớt, như đọc lại một kết quả giám định.
– Năm chín tám, tôi đem viên Hạt Lựu đi cầm. – Ngàn nói lại. – Tôi bảo con tôi là Lễ cắt chấu, gắn đá lò vô, để vợ tôi không biết.
Ông Tường dừng lại thở. Rồi nói tiếp.
– Ở tiệc thọ, vợ tôi chỉ anh Toản. Tôi đứng đó. Tôi không nói. – Ngàn nói lại. Giọng cô run một chút ở chữ "không". Cô nuốt xuống. – Ba ngày sau tôi cho anh Toản nghỉ. Tôi bảo con dâu tôi trừ lương anh, ghi là phạt làm mất đồ.
– Năm chín chín tôi chuộc viên đá về. Tôi cất trong két. Tôi không nói.
– Năm hai ngàn lẻ bảy, anh Toản đứng trước cổng nhà tôi, xin tôi nói một câu. Tôi quay mặt vô tường. Ba ngày sau anh Toản mất.
Phòng họp im phăng phắc. Có tiếng điều hòa thổi rì rì. Có tiếng thím Ba sụt sịt.
Ông Tường ngẩng lên, nhìn về phía má Ngàn đang đứng cạnh cửa. Ông nói câu tiếp theo, và lần này Ngàn không cần nói lại, vì ông gom hết sức mình, đẩy từng chữ qua cái miệng méo, rõ tới mức cả phòng nghe:
– Không phải anh Toản. Là tôi.
Má đứng yên. Hai tay má nắm quai túi vải.
– Tôi xin lỗi anh Toản. – Ông nói. – Tôi xin lỗi chị Diệu.
Rồi ông quay đầu, chậm chạp, nhìn con trai thứ của mình đang đứng sát tường.
– Lễ làm theo lệnh tôi. Tuệ im theo lệnh tôi. – Ngàn nói lại. – Tội là của tôi. – Ông dừng, rồi nói thêm, không cần ai nói lại: – Lễ. Con nói láo về chị Hai. Con xin lỗi chị con.
Ông Lễ đứng đó, hai tay buông thõng, cà vạt đỏ lệch sang một bên. Ngàn thấy môi ông run. Ông nhìn bà Tuệ. Bà Tuệ nhìn lại, không né.
– Chị Hai. – Ông Lễ nói. Giọng ông vỡ ra như cái chấu bị kẹp quá tay. – Em xin lỗi.
Ông ngồi phịch xuống một cái ghế trống, ôm mặt. Vịnh đứng dậy, đi qua hai cái ghế, ngồi xuống cạnh cha mình. Anh không nói gì, chỉ đặt tay lên lưng ông.
Cô Út Hân tháo kính trên trán xuống, lau mắt bằng vạt áo.
– Còn phiếu bầu. – Bà nói, khàn khàn. – Anh Ba còn muốn bầu không?
Ông Lễ lắc đầu, mặt vẫn úp trong lòng bàn tay.
– Tôi không bỏ phiếu. – Ông Tường nói, Ngàn nói lại. – Tôi không còn quyền.
Bà Tuệ đứng dậy.
– Con đề cử thằng Duật làm chủ tịch hội đồng gia tộc. – Bà nói. – Không phải chủ tịch công ty. Chủ tịch hội đồng gia tộc, để lo một việc: nhà mình trả nợ cho nhà anh Toản cho đàng hoàng, và nói thật với khách hàng.
Duật nhìn mẹ, rồi đứng lên.
– Con nhận, nếu hội đồng đồng ý thêm một chuyện. – Anh nói. – Ghế tổng giám đốc điều hành, con đề nghị đưa ra đại hội cổ đông người không mang họ Âu. Người đã giữ hồ sơ nhà mình sạch suốt mấy tháng nay. – Anh quay về phía cửa sổ. – Diệp Anh.
Diệp Anh ngẩng lên khỏi máy tính. Lần đầu tiên từ ngày Ngàn biết cô ta, cô ta không có câu trả lời sẵn.
Phiếu giơ tay: bà Tuệ, cô Út Hân, Vịnh, thím Ba. Ông Lễ, sau một lúc rất lâu, cũng giơ tay, không ngẩng mặt lên.
Mười giờ, ông Tường bảo chị Út đẩy ông xuống tầng trệt. Ở đó, giữa hai dãy tủ kính trưng nhẫn cưới, là chỗ năm mươi năm trước ông kê cái tủ kính đầu tiên. Đã có sẵn mấy chục người chờ: thợ của xưởng, thợ cũ đã nghỉ hưu, khách quen, mấy phóng viên đứng phía sau. Ông nói lại một lần nữa, ngắn hơn, Ngàn đứng bên cạnh nói lại từng câu. Không ai vỗ tay. Có một ông thợ già tóc bạc đứng ở hàng đầu, khóc tới nỗi phải có người dìu ra ngoài. Sau này Ngàn mới biết, đó là người ngồi bàn bên cạnh ba cô ba năm liền, hồi tiệm còn bốn chục thợ.
Khi mọi người đã tản ra, ông Tường bảo Duật mở cái hộp gỗ cẩm lai chạm hai trái lựu nứt vỏ. Bên trong, trên lớp nhung đỏ đô, không còn cái mặt dây giả. Chỉ có viên Hạt Lựu thật, nằm trơ trọi, đỏ như ruột trái lựu chín.
Ông chìa cái hộp về phía má Ngàn.
– Của anh Toản. – Ông nói.
Má nhìn viên đá rất lâu. Rồi má đưa tay ra, khép nắp hộp lại, đẩy nó về phía ông, nhẹ nhàng, giống y như hôm má trả lại phong bì cho bà Tuệ.
– Tôi không lấy viên đá. – Má nói. – Anh Toản chưa bao giờ muốn viên đá. Tôi lấy lại cái tên thôi. Ông trả rồi.
— Hết chương 19 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe