Chương 11: Chú Ba và cái kìm mỏ nhọn
Ông nội không chịu nói.
Duật đã thử ba lần trong một tuần. Lần đầu anh cầm tờ kết quả của phòng thử nghiệm Hà Nội vào phòng ông, đặt lên mền. Ông đọc, gấp lại, đưa trả, rồi bảo chị Út đẩy ra vườn cho cá ăn. Lần thứ hai anh ngồi chờ ông dưới gốc khế cả buổi chiều, ông ngủ gật trên xe lăn từ lúc anh tới tới lúc anh về. Lần thứ ba anh hỏi thẳng:
– Nội, ai tráo viên đá?
Ông Tường nhìn anh, ánh mắt tỉnh táo như một người hai mươi tuổi.
– Tới ngày hai mươi tháng Chín tao nói. – Ông nói. – Trước ngày đó mày đừng hỏi. Hỏi nữa tao đổi di chúc.
Ông chưa bao giờ dọa anh bằng di chúc. Chưa bao giờ, kể cả hồi anh mười lăm tuổi hàn khóa dây chuyền vào tay mình rồi khóc.
Tối thứ Năm, Duật xuống xưởng như thường lệ.
Xưởng chế tác của Âu Kim nằm trên đường Phan Văn Trị, một dãy nhà xưởng ba tầng mái tôn, sáu chục thợ làm hai ca. Tám giờ tối ca ngày đã về, ca đêm chưa vào hết, hành lang dài chỉ còn vài ngọn đèn. Mùi axit, mùi sáp đúc, mùi kim loại nóng lẫn vào nhau, thứ mùi mà Duật đã hít từ năm mười lăm tuổi và giờ không còn nhận ra là mùi nữa.
Bàn thợ cũ của ông nội nằm ở góc trong cùng tầng hai, cạnh cửa sổ nhìn ra con hẻm. Một cái bàn gỗ dầu sứt mép, mặt bàn khoét một cái lỗ bán nguyệt cho người thợ ngồi sát vào, dưới lỗ là cái túi da hứng bụi vàng. Duật bật đèn, ngồi xuống, mở hộp dụng cụ.
Anh không làm gì. Anh ngồi nhìn hai bàn tay mình.
Từ hôm ăn chè nguội trên phòng giám định với Ngàn, anh nhìn cái gì cũng thấy chấu. Chấu trên nhẫn cưới của khách ở cửa hàng Đồng Khởi. Chấu trên bông tai của mẹ. Chấu trên cái mặt dây chuyền chữ thập của chị Út. Anh nhìn đầu chấu, nhìn mặt trong của chấu, nhìn vết kìm. Anh như người vừa học được một chữ mới, đi đâu cũng thấy chữ đó.
Tiếng dép lẹp xẹp trên sàn xi măng. Chú Ba Lễ đi từ phòng giám đốc xưởng ra, tay cầm ly trà đá, áo ca rô bỏ ngoài quần.
– Thằng Duật. – Chú nói. – Thứ Năm nào cũng xuống. Mày làm phó tổng mà chăm hơn thợ của tao.
– Dạ. Con chào chú.
Chú Ba đi ngang bàn thợ của mình, cái bàn kê sát cửa phòng giám đốc, to hơn mọi cái bàn khác trong xưởng, mặt bàn bọc da bò. Chú đặt ly trà xuống, cầm một cây kìm mỏ nhọn lên, bóp bóp hai cái cho đỡ mỏi tay như một thói quen.
Duật nhìn cây kìm. Miệng kìm trơn, không lót gì. Răng kìm mòn vẹt một bên, kiểu mòn của một cây kìm dùng mấy chục năm, và kiểu mòn đó ăn vào vàng thì để lại ba lằn song song, cạn, đều nhau.
Từ năm mười lăm tuổi, anh đã nghe ông nội chửi chú Ba vì cây kìm đó. "Lót da vô! Mày kẹp vàng như kẹp đinh!" Chú Ba cười hề hề, không lót. Cả xưởng ai cũng biết. Thợ mới vô xưởng được dặn: đồ chú Ba làm thì phải đánh bóng lại mặt trong chấu, không thì khách thấy vết kìm.
Duật đứng dậy. Anh đi tới bàn chú Ba, đặt điện thoại lên mặt da bò, mở tấm ảnh Ngàn chụp ổ chấu cái mặt dây ở bốn mươi lần.
– Chú coi giùm con cái này.
Chú Ba liếc xuống. Một giây. Rồi chú cầm ly trà lên uống.
– Cái gì? Ổ chấu của cái mặt dây giả. Con nhỏ đó chụp hả? Nó bị đuổi rồi mà mày còn giữ ảnh của nó?
– Ba lằn song song ở chấu hai và chấu năm. Kìm không lót da. – Duật nói. – Trong xưởng mình hồi năm chín tám, ai kẹp kìm không lót da hả chú?
Chú Ba đặt ly trà xuống. Lần này chú nhìn Duật, không nhìn cái điện thoại.
– Mày nói cái gì?
– Con hỏi chú.
– Mày hỏi tao, – chú Ba nói, chậm, – là mày nghi tao.
– Chú là thợ dưới tay anh Toản năm đó. Chú biết cái mặt dây. Chú có cái kìm này. – Duật nói, giọng đều. – Và chấu móc câu thì chú không làm được. Cả xưởng này chưa ai làm được, trừ anh Toản với ông nội.
Có tiếng máy đánh bóng ở phòng bên cạnh rú lên rồi tắt. Vài người thợ ca đêm đi ngang hành lang, liếc vào, rồi đi nhanh hơn.
Chú Ba ngồi xuống cái ghế bọc da của mình. Chú không giận như Duật tưởng. Chú cười, một nụ cười mệt mỏi, rồi rút một điếu thuốc trong túi áo ra, không châm, chỉ kẹp giữa hai ngón tay.
– Thằng Duật, mày ngồi đi.
Duật không ngồi.
– Mày biết viên đá thật nằm ở đâu không? – Chú Ba hỏi.
Duật không trả lời. Chú Ba nhìn mặt anh, rồi gật gù.
– Mày biết. – Chú nói. – Mày biết rồi. Vậy tao hỏi mày, ai giữ viên đá? Tao hả? Không. Ông nội mày. Hai mươi mấy năm nay, viên đá nằm trong két ông nội mày, phải không?
– Chú biết?
– Tao biết hồi nào không quan trọng. – Chú Ba bẻ điếu thuốc làm đôi. – Quan trọng là mày muốn biết chuyện năm chín tám thì mày đi hỏi ông nội mày. Tao chỉ là thằng thợ. Năm đó tao hai mươi tám tuổi, tao là thằng thợ. Thằng thợ thì làm theo lệnh.
– Lệnh của ai?
– Mày hỏi ông nội mày.
– Con hỏi rồi. Ông không nói.
– Vậy thì mày biết ông nội mày là người như thế nào rồi đó. – Chú Ba đứng lên. Giọng chú bây giờ khác, không còn là giọng ông chú dễ dãi uống trà đá. – Nghe tao nói nè, thằng Duật. Ngày hai mươi tháng Chín, hội đồng gia tộc bỏ phiếu. Ông già giấu một viên đá hai mươi tám năm, để một thằng thợ chết mang tiếng ăn cắp. Mày nghĩ khách hàng của Âu Kim mà biết chuyện đó thì sao? Ba mươi mấy cửa hàng, sáu chục thợ, năm mươi năm tên tuổi. Người ta mua nhẫn cưới ở Âu Kim vì tin. Mất cái tin đó là mất hết.
– Chú định nói ra?
– Tao định cứu công ty. – Chú Ba nói. – Một ông già như vậy không thể quyết định ai ngồi ghế. Nhánh của mày, mẹ mày, cũng không. Mẹ mày biết, thằng Duật. Mẹ mày biết hết từ năm đó, mày hỏi thử coi.
Duật đứng im. Câu cuối cùng như một cái kìm không lót da, kẹp vào chỗ mềm nhất.
– Mày đứng về phía con nhỏ đó, – chú Ba nói, cầm ly trà lên, – là mày đứng về phía làm sập Âu Kim. Mày suy nghĩ đi.
Chú đi vào phòng giám đốc, đóng cửa lại. Cây kìm mỏ nhọn nằm trên mặt da bò, dưới ánh đèn huỳnh quang, miệng kìm hé mở như đang cười.
Thứ Tư tuần sau, chú Ba tới phòng giám định trên đường Trần Quang Khải.
Ngàn đang soi một chiếc nhẫn cưới cho một bà cụ ở Gia Định thì nghe tiếng chân nặng nề trên cầu thang sắt. Bửu ló ra, mặt tái mét, ra hiệu bằng tay. Ngàn ngẩng lên. Ông Âu Bá Lễ đứng ở cửa, thở hổn hển, mồ hôi ướt đẫm lưng áo ca rô.
– Bốn chục bậc. – Ông nói. – Phòng mày ở trên trời hả?
Ngàn làm xong chiếc nhẫn cho bà cụ, viết phiếu, tiễn bà ra cầu thang. Rồi cô quay lại, kéo cái ghế đẩu sát cửa sổ ra cho ông Lễ ngồi. Ông không ngồi. Ông đứng nhìn quanh căn phòng, nhìn cái máy lạnh, cái kính hiển vi, rồi nhìn tấm ảnh ba cô dựng trên bàn.
Ông nhìn tấm ảnh đó lâu hơn mọi thứ khác.
– Ba mày cười đẹp. – Ông nói. – Hồi đó tiệm ai cũng nói vậy.
– Chú tới đây làm gì, chú Ba?
– Tới làm ăn. – Ông kéo ghế ngồi xuống, đặt hai bàn tay to bè lên đầu gối. – Tao nói thẳng. Ngày hai mươi tháng Chín, hội đồng gia tộc họp. Tao sẽ đứng ra nói trước hội đồng: ba mày bị oan. Tao nói, tao ký tên. Mày muốn minh oan cho ba mày, không ai trong nhà đó làm cho mày, trừ tao.
Ngàn nhìn ông.
– Đổi lại cái gì?
– Mày làm chứng. – Ông nói. – Mày nói trước hội đồng: viên đá thật nằm trong két ông già, ông già đưa mày coi, ông già biết hết. Mày là giám định viên, mày nói thì có trọng lượng. Chỉ vậy thôi.
– Chỉ vậy để chú lấy cái ghế.
– Để tao cứu công ty. – Ông Lễ không chớp mắt. – Mà cũng để ba mày được rửa tên. Hai chuyện đi chung được. Mày khôn thì mày thấy.
– Chú cũng biết hết. – Ngàn nói. – Chú biết ba con bị oan từ năm chín tám. Sao hai mươi tám năm nay chú không nói?
Ông Lễ không trả lời ngay. Ông thò tay vào túi áo ngực, rút ra một tấm ảnh nhỏ, cũ, mép đã quăn, đặt lên mặt kính bàn giám định, ngay dưới ngọn đèn.
Ảnh màu, loại ảnh rửa ở tiệm những năm chín mươi, màu đã ngả vàng. Một phòng tiệc trải khăn trắng, bàn tròn, bánh kem ba tầng. Ở giữa ảnh, một bà cụ tóc búi, áo dài nhung đỏ, đeo trên cổ một cái mặt dây chuyền hình giọt nước có viên đá đỏ. Đứng sau bà là ông Tường, năm mươi bảy tuổi, tóc còn đen, tay đặt trên vai vợ. Bên cạnh ông là một người đàn bà trẻ, áo dài trắng, ôm một thằng bé chừng năm tuổi. Một thanh niên vạm vỡ, áo sơ mi trắng, đứng chống nạnh. Bà Tuệ. Duật. Chú Ba.
Và ở mép phải tấm ảnh, nửa người bị cắt ngoài khung, là một người đàn ông mặc bộ vest rộng thùng thình như đồ mượn, tóc chải gọn. Người đó đang nhìn cái mặt dây trên cổ bà cụ với vẻ mặt của một người thợ nhìn món đồ mình làm ra.
Ba.
Ngàn chưa bao giờ thấy tấm ảnh này. Cô chưa bao giờ thấy ba mặc vest.
– Tiệc thọ bà nội, tám tháng Chín năm chín tám. – Ông Lễ nói. – Chụp trước khi người ta mời giám định viên tới chừng một tiếng. Lúc đó chưa ai biết gì. – Ông đứng dậy. – Mặt sau có chữ. Mày đọc rồi suy nghĩ.
Ông đi xuống cầu thang. Bốn mươi bậc sắt, mỗi bậc một tiếng nặng nề.
Ngàn lật tấm ảnh lại. Mặt sau, bằng bút bi xanh, chữ nghiêng và to, ai đó vừa viết mới đây:
"Muốn rửa tên ba mày thì đứng về phía tao."
— Hết chương 11 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe