Chương 4: Ba mươi ngày
Sáng thứ Ba, văn phòng luật ở tầng ba một toà nhà trên phố Trần Hưng Đạo, cửa kính dán giấy mờ, máy lạnh để mười tám độ. Luật sư Ông Văn Sử độ ngoài năm mươi, đeo kính gọng mảnh, nói chậm, mỗi câu dừng một nhịp như để người nghe kịp chép. Ông là người lo thủ tục khai nhận di sản cho nhà tôi sau đám ma bố.
– Tôi nhắc lại để các anh chị cùng nắm. – Ông nói, lật tập hồ sơ. – Công ty trách nhiệm hữu hạn Hoa Gạo hiện có bốn thành viên. Anh Mạc Văn Trụ bốn mươi phần trăm vốn. Chị Mạc Thị Thắm ba mươi. Bà Tạ Thị Vén mười lăm. Chị Mạc Thị Bông mười lăm.
Anh Trụ ngồi đầu bàn. Chị Thắm ngồi cạnh anh Lương. Mẹ không đi, bảo mắt kém, ngồi phòng lạnh đau đầu, ủy quyền cho tôi.
– Anh Trụ và chị Thắm có ý định chuyển nhượng phần vốn cho một bên ngoài công ty. Theo luật doanh nghiệp, trước khi bán cho người ngoài, thành viên phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại, theo tỷ lệ vốn của họ, với cùng điều kiện. Trong ba mươi ngày kể từ ngày chào bán, nếu các thành viên còn lại không mua hoặc không mua hết, thì anh chị mới được bán cho người ngoài. Điều kiện bán cho người ngoài cũng không được ưu đãi hơn điều kiện đã chào cho thành viên.
– Tức là ba mươi ngày. – Anh Lương nói, gõ ngón tay xuống bàn. – Bắt đầu tính từ hôm nay.
– Từ ngày chị Bông và bà Vén nhận được văn bản chào bán. – Luật sư Sử sửa. – Tôi đã chuẩn bị văn bản. Giá chào: ba mươi hai tỷ đồng cho bảy mươi phần trăm, tương ứng với giá bên mua ngoài đã đề nghị.
Ông đẩy tờ giấy sang tôi. Tôi đọc, ký nhận, ghi ngày. Thứ Ba, ngày ba mươi tháng Sáu. Chữ ký của tôi run một chút ở nét cuối.
– Còn một việc. – Tôi nói. – Nếu bên kia mua bảy mươi phần trăm, thì nhãn hiệu Hoa Gạo, cái lò ở ngõ Cây Gạo, cái khuôn đồng, thuộc về ai?
Luật sư Sử tháo kính ra lau.
– Nhãn hiệu đăng ký đứng tên công ty, nên thuộc về công ty. Ngôi nhà ở ngõ Cây Gạo đứng tên ông Mạc Văn Lục và bà Tạ Thị Vén, không phải tài sản công ty, nhưng đang thế chấp cho khoản vay của công ty. Còn cái khuôn đồng... – Ông ngừng lại, hơi mỉm cười. – Tôi e là không có hồ sơ nào nhắc đến cái khuôn. Nó là đồ của gia đình.
– Bố tôi trước khi mất nói là cho tôi.
– Thì nó là của chị. – Ông nói nhẹ nhàng. – Nhưng chị dùng nó để ép bánh mang nhãn Hoa Gạo thì phải được công ty đồng ý. Cái khuôn là của chị. Cái tên thì không.
Chị Thắm nhìn ra cửa sổ.
Ra khỏi văn phòng, anh Lương đưa anh Trụ đi đâu đó bằng xe của anh. Chị Thắm đứng chờ taxi ở vỉa hè. Tôi đứng cạnh chị. Nắng tháng Sáu trên phố Trần Hưng Đạo trắng loá, mặt đường bốc hơi. Chị Thắm lấy trong túi ra cái quạt nan nhỏ, phe phẩy.
– Chị. – Tôi nói. – Chị cần tiền làm gì?
Chị quay sang nhìn tôi như thể tôi vừa hỏi một câu bậy.
– Mày hỏi thật à?
– Em hỏi thật.
Chị cười, nhưng mắt không cười.
– Thằng Phúc mười chín tuổi, đỗ học bổng một nửa ở bên Úc. Nửa kia mỗi năm sáu trăm triệu, chưa kể ăn ở. Quầy hàng của chị ở chợ Con, ngày trước một ngày bán ba trăm hộp, bây giờ bán ba mươi, vì người ta bảo Hoa Gạo xuống cấp. Anh Lương làm đại lý, bánh kẹo bây giờ ai cũng mua trên mạng, đại lý chết cả lượt. Thế đủ chưa?
Tôi không nói gì.
– Mày biết chị đứng quầy từ năm bao nhiêu tuổi không? – Chị nói tiếp, giọng hạ xuống. – Mười lăm. Năm ấy chị xin bố cho đứng chảo, bố bảo con gái không đứng chảo, con gái đứng quầy. Thế là chị đứng quầy. Ba mươi lăm năm. Anh Trụ được bố dạy sao đậu từ năm mười hai tuổi, rồi anh ấy chê lò, đi dựng nhà máy. Còn mày thì cãi bố, bỏ đi, bố lại nhớ mày nhất. Lúc chết bố gọi tên mày. Còn chị đứng ở cái quầy ấy ba mươi lăm năm, bố chưa một lần bảo chị là con làm tốt.
Taxi đến. Chị gập quạt, mở cửa xe.
– Mày giữ cái khuôn. – Chị nói, không quay lại. – Chị giữ con chị.
Xe đi. Tôi đứng lại một mình trên vỉa hè, mồ hôi chảy dọc sống lưng.
Tôi về nhà ăn bữa trưa muộn với mẹ. Mâm cơm chỉ có hai người: đĩa rau muống luộc, bát canh cua mồng tơi, mấy quả cà pháo, một đĩa đậu phụ rán chấm mắm tôm. Mẹ ăn chậm, gắp đúng từng món, không cần nhìn, như người đã ngồi đúng chỗ ấy ăn đúng bữa ấy năm mươi năm.
– Mẹ. – Tôi hỏi. – Mẹ có biết ông Hữu bên Ninh Phát không?
Đôi đũa của mẹ dừng lại trên đĩa rau một nhịp, rồi gắp tiếp.
– Biết. Ai ở cái thành phố này mà không biết.
– Ông ấy với nhà mình có quen nhau không mẹ?
– Người ngoài. – Mẹ nói. Rồi mẹ đặt đũa xuống, bưng bát canh lên húp, che gần hết mặt.
Tôi chờ. Mẹ húp hết bát canh, đặt bát xuống, đứng dậy đi rửa tay, rồi xuống lò. Câu chuyện dừng ở hai chữ ấy. Người ngoài. Ở nhà tôi, khi mẹ nói một người là người ngoài, thì có nghĩa người ấy đã từng không phải người ngoài.
Chiều hôm ấy tôi gọi cho ông Hữu. Số của ông tôi lấy từ anh Trụ, anh đưa mà không hỏi gì. Tôi nghĩ là tôi sẽ gặp thư ký, hoặc một trợ lý nào đó. Người nhấc máy là ông.
– Cô Bông. – Ông nói, như đã chờ. – Tôi biết cô sẽ gọi. Năm giờ chiều cô có rảnh không? Quán trà bên bờ sông, chỗ chân cầu Phú Lương, phía bên này. Tôi ngồi ở đấy chiều nào cũng vậy.
Quán trà là một cái chòi gỗ mái lá cọ dựng trên bờ đê, nhìn ra sông Thái Bình. Nước sông tháng Sáu đỏ đục phù sa, chảy xiết. Mấy cái sà lan chở cát nằm nặng nề giữa dòng. Cầu Phú Lương vắt ngang, xe tải nối đuôi nhau chạy, rung cả mặt nước.
Ông Hữu ngồi ở cái bàn trong cùng, sát lan can, một mình. Ông sáu mươi ba tuổi, tóc bạc cắt ngắn sát chân, người to, vai rộng, mặc áo phông xám cũ, quần kaki, đi dép quai hậu. Nếu không biết trước, tôi đã nghĩ ông là một người thợ hồ đang nghỉ chiều. Trước mặt ông là ấm trà, hai cái chén, và một đĩa bánh đậu xanh không có hộp, gói giấy thiếc trơn.
Ông đứng dậy khi tôi đến, kéo ghế cho tôi.
– Cô ngồi. Uống trà Thái nhé. Tôi không quen trà ướp.
Ông rót trà. Tay ông to, ngón tay ngắn, móng cắt sát. Trên cổ tay phải có một vết sẹo bỏng hình lưỡi liềm.
Tôi nhìn vết sẹo lâu đến mức ông nhận ra. Ông xoay cổ tay lên.
– Chảo gang. – Ông nói. – Ai đứng chảo đủ lâu thì đều có. Mẹ cô có một vết y như thế, cũng ở tay phải. Đúng không?
– Sao ông biết?
– Vì tôi đứng cạnh bà ấy tám năm. – Ông nói. – Từ năm tôi mười bảy tuổi đến năm hai mươi lăm. Tôi học việc ở lò nhà cô. Cô không biết à?
Tôi không biết. Không ai trong nhà từng kể. Tôi chỉ biết tên Ninh Phát như người ta biết tên một hãng lớn, xa, như cái biển quảng cáo trên quốc lộ.
Ông đẩy đĩa bánh sang phía tôi.
– Bánh của tôi. Cô ăn thử.
Tôi bóc một viên. Giấy thiếc gói phẳng, gập bằng, gói máy. Viên bánh vuông, không có hoa in. Tôi đặt lên lưỡi, ép vào vòm miệng, đếm.
Đến ba thì nó tan.
Mùi mỡ lợn thơm, sạch, không có hôi. Đậu bùi, đường vừa, có một chút mằn mặn rất nhẹ ở cuối. Nếu ai đó bịt mắt tôi lại, tôi sẽ nói đây là bánh mẹ tôi làm. Chỉ có một khác biệt: bánh của mẹ tôi tan chậm hơn một nhịp, và hậu của nó có một thứ hương khô hơn, như mùi rơm phơi.
Ông nhìn mặt tôi trong lúc tôi ăn. Ông không hỏi ngon không. Ông biết.
– Ông dùng mỡ lợn. – Tôi nói.
– Mỡ lợn. Thắng trong ngày. Nhà máy tôi có kho lạnh âm hai mươi, có máy hút chân không, nên hạn dùng được bốn tháng mà không ôi. Đắt hơn. Nhưng tôi không bán cái thứ không tan. – Ông nhấp trà. – Anh cô thì bán.
Tôi không cãi được.
– Ông muốn mua Hoa Gạo để làm gì? – Tôi hỏi. – Ông có tên riêng của ông, nhà máy của ông còn to hơn.
Ông đặt chén trà xuống, nhìn ra sông.
– Năm tám mươi tám, trước Tết, bố cô đuổi tôi khỏi lò. Đuổi giữa ngõ, trước mặt cả xóm. Tôi không oán, cô ạ. Đã ba mươi tám năm, oán thì cũng mòn rồi. Tôi chỉ nghĩ cái tên ấy phải về đúng chỗ của nó. Đúng chỗ của nó không phải là cái nhà máy dùng mỡ thực vật của anh cô.
– Đúng chỗ của nó là nhà máy của ông?
– Đúng chỗ của nó là chỗ người ta làm bánh tử tế. – Ông nói. – Cô đã ăn. Cô biết.
– Bố tôi đuổi ông vì sao?
Ông không trả lời ngay. Ông bóc một viên bánh, nhưng không ăn, chỉ xoay trong tay.
– Tôi sẽ giữ cái lò ở ngõ Cây Gạo. Tôi sẽ để mẹ cô làm đến bao giờ bà ấy muốn. Tôi sẽ đánh hàng giả đến tận gốc. Chuyện ấy tôi viết vào hợp đồng, cô không tin thì cô đọc. Tôi chỉ xin cô một việc: đừng làm khó anh chị cô. Họ cần tiền. Cô không có tiền để giúp họ, mà tôi có.
Ông đứng dậy, đặt tờ năm trăm nghìn dưới ấm trà, rồi nhìn xuống tôi.
– Cô có biết vì sao cái khuôn nhà cô sứt một cánh không?
– Cụ Tảo đánh rơi năm bốn bảy, lúc tản cư. – Tôi nói, câu trả lời của một đứa trẻ thuộc lòng.
Ông Hữu nhìn tôi rất lâu. Cái nhìn của ông không có giễu cợt, cũng không có thương hại. Nó giống cái nhìn của người thầy khi học trò trả lời sai một câu mà thầy biết chắc học trò sẽ trả lời sai.
– Ừ. – Ông nói. – Bố cô vẫn kể chuyện ấy à.
Rồi ông đi ra con dốc đê, lên một cái xe bán tải cũ màu trắng, tự lái, không có tài xế.
Tôi ngồi lại một mình bên ấm trà. Dưới sông, một con sà lan kéo còi dài. Trong đĩa còn sót một viên bánh của ông. Tôi bóc ra, lật lên. Không có hoa. Một mặt vuông trơn, nhẵn, như một tờ giấy chưa ai viết gì lên.
— Hết chương 4 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe