Chương 3: Nhà máy bên quốc lộ
Nhà máy của anh Trụ nằm trong cụm công nghiệp phía tây thành phố cũ, cách quốc lộ năm chừng năm trăm mét, giữa một xưởng gạch men và một kho phân bón. Cổng sắt sơn đỏ, biển tên to, cây hoa gạo bằng tôn sơn đỏ cao gần hai mét dựng ngay giữa bồn cỏ. Lần cuối cùng tôi đứng trước cái cổng này là năm khánh thành, mười hai năm trước, tôi mới học năm thứ hai đại học. Hôm ấy bố không đến. Mẹ đến một mình, đứng ở hàng thứ hai, cắt băng xong thì về ngay vì lò còn mẻ đậu.
Anh Trụ đón tôi ở phòng bảo vệ, đưa cho tôi cái mũ trùm tóc, đôi bao giày, chiếc áo blu trắng.
– Vào xưởng thì phải mặc. – Anh nói. – Em làm nghề này, em biết.
Tôi biết. Tôi cũng biết là anh muốn tôi thấy anh biết.
Xưởng chính rộng như một sân bóng đá mini, mái tôn cách nhiệt, sàn sơn xanh lá bóng loáng. Dây chuyền chạy dọc từ đầu này sang đầu kia: bồn ngâm, máy đồ đậu bằng hơi, tủ sấy, máy nghiền, máy rây rung. Rồi máy trộn, máy ép khuôn tự động, máy gói giấy thiếc, băng tải ra khu đóng hộp. Sáu mươi công nhân đứng dọc hai bên. Tiếng máy rền đều, không lép bép, không rì rào. Mùi đậu ở đây có, nhưng nhạt, lẫn với mùi dầu máy và mùi nhựa của băng tải.
– Một ca ra sáu nghìn hộp. – Anh Trụ nói, phải ghé sát tai tôi vì ồn. – Lò ở nhà làm cả tháng không bằng một ca ở đây.
Tôi đi chậm dọc dây chuyền. Thói quen nghề nghiệp, tôi nhìn chỗ người ta không mời mình nhìn: rãnh thoát nước dưới máy, góc khuất sau tủ sấy, cái thùng rác ở cuối máy ép. Sạch. Anh tôi điều hành tử tế. Công nhân đeo găng, đeo khẩu trang đúng cách. Có bảng ghi nhiệt độ treo ở tủ sấy, ghi đều từng giờ.
Ở khu đóng hộp, một người phụ nữ đứng máy dán băng keo ngẩng lên, nhìn tôi qua lớp khẩu trang, rồi kéo khẩu trang xuống cằm. Chị Hảo. Chị làm ở lò nhà tôi từ năm tôi còn học cấp hai, chuyên đứng rây, hai cánh tay to như cánh tay đàn ông vì mỗi ngày lắc rây mấy trăm lượt.
– Bông! – Chị gọi, rồi nhìn sang anh Trụ, hạ giọng ngay. – Cô Út về hôm nào thế?
– Em về hôm trăm ngày bố chị ạ. Chị lên đây từ Tết à?
– Từ Tết. – Chị gật đầu. – Anh Trụ trả chín triệu, ở lò bà trả có sáu. Con chị năm nay vào lớp mười, cần tiền.
Chị nói như để thanh minh, dù tôi không trách gì. Anh Trụ đã đi lên trước mấy bước, đứng nói chuyện với một tổ trưởng. Chị Hảo nhìn theo anh, rồi ghé sát vào tôi.
– Ở đây sạch, mát, có quạt, có điều hòa ở phòng nghỉ. – Chị nói. – Nhưng bánh ở đây chị không mang về cho con chị ăn. Nó quen ăn bánh bà làm từ bé, nó bảo bánh này ăn dính cổ. Chị có mang về một lần, nó ăn một viên rồi để đấy.
Chị kéo khẩu trang lên, quay lại với cái máy dán băng keo trước khi anh Trụ kịp quay đầu lại. Băng keo kêu xoẹt một tiếng dài, rồi xoẹt một tiếng nữa.
Máy ép dập xuống mỗi lần hai mươi tư viên. Tôi cầm một viên vừa ra lên xem. Bông hoa gạo năm cánh, sắc, đều, không một vết sứt.
– Khuôn thép không gỉ. – Anh Trụ nói. – Đặt làm ở Bắc Ninh. Hai mươi tư ô, giống khuôn nhà, có điều không ô nào sứt. Máy thì không chơi trò may rủi được em ạ.
– Thế khách tìm viên sứt cánh thì sao?
– Khách thành phố bây giờ không ai bóc bánh tìm hoa. – Anh nói. – Họ mua làm quà, mua theo hộp, mua trên mạng. Họ cần cái hộp đẹp với giá dễ chịu.
Ở góc xưởng có một khoảng trống ngăn bằng vách kính. Trong đó dựng một cái bàn, phông nền vàng in cây hoa gạo, đèn chiếu ba cây, một chiếc điện thoại gắn trên giá. Thằng Khoa ngồi trước điện thoại, áo đồng phục, tóc vuốt keo, nói liến thoắng.
– Vâng chị Hà Đông ơi, hộp trà xanh thì còn ạ, em lên đơn cho chị luôn. Anh ở Vinh hỏi có sầu riêng không, có anh nhé, vị sầu riêng mới ra tuần trước, mua ba tặng một...
Nó thấy tôi, nháy mắt, vẫn nói không vấp chữ nào. Trên bàn trước mặt nó bày mười mấy hộp đủ màu. Xanh lá, tím, vàng sầu riêng, hồng. Hộp nào cũng có cây hoa gạo, nhưng cây hoa gạo trên hộp sầu riêng có thêm một quả sầu riêng mọc ở cành.
– Thằng Khoa làm phần bán hàng trên mạng. – Anh Trụ nói, giọng có chút gì tự hào mà cũng có chút gì ngượng. – Nó bảo phải có vị mới thì người trẻ mới mua. Doanh số trên mạng năm ngoái gấp đôi năm kia.
– Bố có biết vị sầu riêng không?
Anh không trả lời.
Anh dẫn tôi vào kho nguyên liệu. Đây là chỗ tôi muốn xem nhất. Kho mát, khô, kệ sắt cao đến trần. Đậu xanh đóng bao năm mươi cân, bao in chữ nước ngoài. Tôi đọc nhãn: đậu xanh đã bóc vỏ, tách đôi, nhập khẩu.
– Đậu nhà mình ngày xưa mua ở Thanh Hà, Gia Lộc. – Tôi nói.
– Đậu ta bây giờ không đủ, giá lại cao. – Anh nói. – Đậu nhập đều hạt, sạch vỏ, máy chạy không kẹt.
Tôi đi tiếp. Đường kính, bao hai lăm cân, không có gì lạ. Hương vani, chai nhựa, loại tổng hợp. Rồi đến dãy kệ cuối. Những thùng nhựa trắng hai mươi cân, nắp vặn, xếp chồng lên nhau cao ngang đầu người. Tôi kéo một thùng xuống, xoay nhãn ra.
Mỡ thực vật. Loại mỡ rắn làm từ dầu cọ.
Tôi đứng im. Trong đầu tôi hiện lên cái lớp màng rít rít trên vòm họng hôm trăm ngày.
– Bao lâu rồi anh? – Tôi hỏi.
– Hai năm. – Anh trả lời ngay, không vấp, như đã chuẩn bị. – Từ trước Tết năm kia.
– Nhãn hộp vẫn ghi mỡ lợn.
– Nhãn còn tồn mấy chục nghìn cái, in một lần mấy trăm triệu. Anh định hết lô nhãn cũ thì in nhãn mới.
– Hai năm mà chưa hết?
Anh nhìn tôi. Mắt anh đỏ ngầu, có quầng thâm dưới mi, cái quầng thâm của người nhiều tháng chỉ ngủ được bốn tiếng một đêm.
– Em ngồi xuống đây. – Anh nói. – Anh nói cho em nghe một lần.
Chúng tôi ngồi trên hai cái thùng đậu. Anh nói, giọng đều đều, như đã nhẩm câu này nhiều lần trong đầu.
– Mỡ lợn thắng xong để được mấy ngày? Mùa hè ba ngày đã có mùi. Bánh làm bằng mỡ lợn hạn dùng ba tháng là hết cỡ. Ở lò, mẹ làm sáng bán chiều, không sao. Ở đây anh phải gửi hàng đi Sài Gòn, đi Đà Nẵng, nằm kho đại lý hai tháng, nằm kệ siêu thị thêm hai tháng nữa. Mỡ lợn không chịu được. Hàng bị trả về, đại lý bắt đền. Anh đã thử, em hiểu không, anh thử ba năm. Năm hai nghìn hai mươi dịch, hàng nằm kho bốn tháng, ôi hết, anh đổ đi hai mươi tấn. Năm ấy mất ba tỷ. Mỡ thực vật thì để được một năm. Không ôi. Không ai đau bụng.
– Nhưng nó không tan.
– Không ai chết vì bánh không tan, Bông ạ.
– Chết cái tên. – Tôi nói.
Anh bật cười, một cái cười khô.
– Em nói giống bố. Giống y hệt. Bố cũng chỉ biết nói câu ấy. Mười hai năm, bố chưa bước chân vào cái cổng này lần nào. Không một lần. Anh mời bố đến ngày khánh thành, bố bảo bố bận mẻ đậu. Anh làm ra sáu nghìn hộp một ca, nuôi sáu mươi người, đưa Hoa Gạo vào siêu thị ở Sài Gòn, bố không hỏi một câu. Bố chỉ hỏi mẹ: "Thằng Trụ nó vẫn dùng mỡ nhà ông Cự chứ?" Bố không hỏi anh. Bố hỏi mẹ.
Anh ngừng lại. Tôi không biết nói gì. Ông Cự là người bán mỡ cho nhà tôi suốt mấy chục năm, có lò mổ nhỏ bên kia sông. Ông mất từ lâu, con trai ông vẫn làm.
– Anh không nói dối bố. – Anh nói khẽ. – Anh chỉ không nói gì.
Điện thoại anh rung. Anh nhìn màn hình, đứng dậy, đi ra góc kho nghe.
– Vâng, anh Kiên... Em biết... Thứ Sáu em lên... Vâng, em biết là quá hạn hai kỳ... Anh báo với giám đốc chi nhánh giúp em là cuối tháng em có phương án...
Lúc anh quay lại, mặt anh xám hơn.
– Ngân hàng. – Anh nói, như tôi chưa đoán ra.
Tôi đứng dậy, phủi áo blu.
– Anh. Em hỏi một câu thôi. Bánh ở trạm dừng chân đầu cầu Phú Lương, cái loại bác Thêm mua, là hàng giả thật, hay là bánh của nhà máy này?
Anh nhìn thẳng vào mắt tôi.
– Hàng giả. Bánh của anh không bán ở trạm dừng chân. Anh đi siêu thị, đi đại lý cấp một, đi bán trên mạng. Trạm dừng chân là chỗ của bọn nhái.
Anh nói chắc. Tôi muốn tin anh. Anh là anh cả, năm tôi lên năm anh cõng tôi đi xem rước kiệu ở đình, tôi ngủ gục trên lưng anh, nước dãi chảy ướt cả vai áo. Năm tôi đi Sài Gòn, anh là người duy nhất ra bến xe, dúi vào ba lô tôi hai triệu, không nói với bố.
Chúng tôi đi ra. Ở sân sau nhà máy, gần cổng phụ, một chiếc xe tải nhỏ màu xanh dương đang đỗ, cửa thùng mở. Hai người đàn ông đang bê những khay nhựa chồng lên nhau đưa lên xe. Khay nào cũng đầy những viên bánh vuông vức, vàng nhạt. Chưa gói. Trần trụi, không giấy thiếc, không hộp.
– Cái gì kia anh? – Tôi hỏi.
– Hàng gia công. – Anh nói, bước nhanh hơn, đi thẳng ra cổng chính. – Có mấy đơn vị đặt mình làm bánh, họ tự đóng gói theo nhãn của họ. Hợp đồng đàng hoàng.
– Nhãn gì?
– Nhãn của họ. – Anh nhắc lại. – Đi thôi, anh còn họp.
Tôi ngoái lại nhìn. Một người đàn ông trên thùng xe đứng thẳng lên, lau mồ hôi trán bằng ống tay áo, rồi nhìn về phía tôi. Ông ta khoảng năm mươi, đội mũ lưỡi trai, mặt lạ. Ông ta nhìn tôi hơi lâu, rồi cúi xuống bê tiếp.
Ở cổng, anh Trụ mở cửa xe cho tôi, nhưng chưa để tôi lên.
– Bông. Anh biết em nghĩ gì. Em nghĩ anh làm hỏng cái tên. Có thể đúng. Nhưng em nghĩ cho kỹ. Ông Hữu mua, ông ấy có tiền, có kho lạnh, có đội pháp chế, có người đánh hàng giả. Ông ấy làm bánh còn giỏi hơn cả anh. Cái tên Hoa Gạo về tay ông ấy, có khi còn tốt hơn ở tay anh.
– Thế còn mẹ? Còn cái lò?
– Ông ấy hứa giữ.
– Ông ấy hứa với anh, hay viết ra giấy?
Anh không trả lời câu ấy. Anh lên xe. Tôi lên theo. Xe chạy ra quốc lộ năm, qua những biển quảng cáo đất nền, quán cơm, cây xăng. Ở cái trạm dừng chân lớn trước khi rẽ về thành phố, tôi thấy dãy quầy hàng đặc sản dưới mái tôn xanh, quầy nào cũng chất cao những hộp giấy vàng có cây hoa gạo đỏ. Người bán đội nón, đứng vẫy tay gọi xe khách.
Anh Trụ không quay sang nhìn. Anh tăng ga.
– Mười tám tỷ. – Anh nói, mắt nhìn đường. – Em mang về đây mười tám tỷ, anh nghe em, anh làm theo em từng chữ. Còn không thì em để anh làm cái việc của anh.
— Hết chương 3 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe