Chương 13: Cuộc gọi lưu tên Anh L.
Nhà chị Thắm ở một khu đô thị mới phía nam thành phố cũ, nhà ống bốn tầng mặt tiền sơn màu kem, cửa cuốn, ban công trồng mấy chậu hoa giấy. Tôi đến lúc bốn giờ chiều thứ Hai. Chị Thắm ra mở cửa, thấy tôi, mặt chị không ngạc nhiên. Chị biết tôi sẽ đến.
– Vào đi. – Chị nói.
Phòng khách lát gỗ, bộ sofa da màu nâu, cái ti vi to chiếm nửa bức tường. Trên kệ ti vi là ảnh cưới của chị với anh Lương, ảnh thằng Phúc mặc áo cử nhân tiểu học, ảnh cả nhà đi biển. Không có ảnh nào chụp ở ngõ Cây Gạo.
Anh Lương ngồi trên sofa, đang xem điện thoại. Thấy tôi, anh đứng dậy, cười như mọi khi.
– Út đến chơi. Uống gì? Nhà có nước cam.
– Em không uống, anh ạ. Em đến hỏi chị Thắm một việc.
Chị Thắm ngồi xuống cái ghế đơn đối diện. Chị không mời tôi ngồi, nhưng tôi ngồi.
– Chị nhận hai tỷ tiền cọc của ông Hữu.
– Ừ. – Chị nói. – Ai bảo mày? Ngân hàng à?
– Chị nhận cọc từ thứ Sáu. Trước hôm em đổi bánh một ngày.
– Thì sao? – Chị nhìn thẳng vào tôi. – Phần của chị, chị bán. Chị không cần hỏi mày.
Anh Lương ngồi xuống cạnh chị, đặt tay lên vai chị, giọng nhẹ nhàng như đang giảng giải cho một đứa trẻ.
– Út này, anh nói cho rõ để Út khỏi hiểu lầm. Đặt cọc chỉ là giữ chỗ thôi. Luật vẫn là luật. Trong ba mươi ngày, nếu mẹ hoặc Út muốn mua lại phần của chị Thắm với đúng giá ấy, thì chị Thắm bán cho nhà mình, trả lại cọc cho ông Hữu. Không ai cướp quyền của ai. Ông Hữu đặt cọc là để yên tâm, vì ông ấy còn phải lo cả khoản nợ ngân hàng.
– Phần của chị Thắm ba mươi phần trăm, theo giá chào là gần mười bốn tỷ. – Tôi nói. – Mẹ với em không có mười bốn tỷ. Anh biết thế.
Anh Lương nhún vai, mỉm cười.
– Thì đấy là chuyện tiền, Út ạ. Không phải chuyện đúng sai.
Chị Thắm không nhìn anh. Chị nhìn xuống hai bàn tay mình đặt trên đùi. Tôi để ý thấy chị đã tháo đôi bông tai vàng to hôm trăm ngày bố.
– Chị. – Tôi nói, chỉ với chị. – Chị bán ba mươi phần trăm thì ông Hữu chưa nắm được công ty. Ông ấy cần cả phần của anh Trụ. Sáng nay anh Trụ đứng chảo ở lò. Anh ấy đã đóng xưởng B. Anh ấy chưa chắc bán nữa đâu.
Lần đầu tiên chị ngẩng lên. Mắt chị có cái gì đó như hoảng.
– Anh Trụ đứng chảo?
– Từ ba giờ sáng. Mẹ đứng nghe anh ấy sao hết một mẻ. Rồi mẹ đồng ý đi mổ mắt.
Chị Thắm há miệng định nói, rồi ngậm lại. Anh Lương siết nhẹ vai chị.
– Anh Trụ thì lúc nóng lúc lạnh. – Anh nói. – Hôm nay đứng chảo, mai ngân hàng gọi thì lại khác. Út cứ để người lớn tính.
Tôi ba mươi hai tuổi. Tôi đứng dậy.
– Còn mười bảy ngày. – Tôi nói với chị Thắm. – Chị không cần trả lời em bây giờ.
Ra đến cửa, tôi nghe sau lưng tiếng anh Lương nói nhỏ với chị, không nghe rõ chữ, chỉ nghe được cái giọng: êm, đều, kiên nhẫn, như người ta dỗ một đứa trẻ uống thuốc.
Sáng thứ Ba, mẹ đi mổ mắt phải.
Phòng mổ ở tầng ba khoa mắt, hành lang đông người già ngồi chờ, ai cũng nhỏ thuốc giãn đồng tử, mắt mở to lơ mơ. Mẹ ngồi trên ghế nhựa xanh, mặc áo cánh nâu, tay trái vẫn quấn băng, tay phải nắm chặt quai túi. Anh Trụ đi cùng. Lần đầu tiên từ hôm trăm ngày, ba mẹ con ngồi cạnh nhau mà không ai cãi ai.
Mười lăm phút, đúng như cô bác sĩ cấp cứu nói. Mẹ được đẩy ra, mắt phải che một cái nắp nhựa trong có lỗ, mắt trái nhắm. Mẹ ngồi im trên xe lăn một lúc, rồi mở mắt trái ra, ngẩng lên nhìn trần hành lang.
– Cái đèn trần trắng quá. – Mẹ nói. – Bệnh viện bây giờ sơn trần trắng thế à?
– Trần vẫn thế mẹ ạ. – Anh Trụ nói. – Mắt mẹ đã sáng ra đâu, mai mới bỏ nắp.
– Thế thì tại tao tưởng tượng. – Mẹ nói, nhưng mẹ vẫn ngẩng nhìn cái đèn trần, nhìn mãi.
Sáng thứ Tư, mẹ đi tái khám, bác sĩ tháo nắp nhựa. Mẹ ngồi trên ghế phòng khám, chớp chớp mắt phải mấy lần, nước mắt chảy ra vì chói. Rồi mẹ quay sang nhìn tôi. Không nghiêng đầu như con chim sáo nữa. Nhìn thẳng.
Mẹ nhìn lâu đến mức tôi ngượng.
– Mày gầy. – Mẹ nói. – Mày đen. Mắt mày có quầng.
– Con thức đêm sao đậu mẹ ạ.
– Hai năm nay tao nhìn mày như nhìn qua cái kính mờ. – Mẹ nói. – Hôm trăm ngày bố mày, tao không thấy rõ mặt mày. Tao chỉ nghe tiếng chân mày. Thế mà mày gầy thế này.
Mẹ đưa bàn tay phải lên, áp vào má tôi, như bà Đoái đã làm hôm tôi mới về. Bàn tay mẹ nóng và ráp, mùi mỡ, mùi than.
Chiều thứ Tư, chị Thanh gọi cho tôi.
– Rạng sáng mai chúng tôi phối hợp với công an kiểm tra một địa điểm. – Chị nói. – Chúng tôi cần đại diện chủ sở hữu nhãn hiệu có mặt để nhận dạng hàng hoá. Giám đốc công ty là anh Trụ, nhưng tôi muốn người có mặt là chị.
– Vì sao chị?
– Vì chị là người phân loại được bốn bao tải ấy. – Chị nói. – Và vì giám đốc công ty đang có vụ việc vi phạm về nhãn với chúng tôi. Anh ấy ký giấy uỷ quyền cho chị là được.
Tôi gọi anh Trụ. Anh không hỏi một câu. Một tiếng sau, anh mang đến ngõ Cây Gạo tờ giấy uỷ quyền có dấu đỏ của công ty, đặt lên bàn gói, rồi đứng vào chảo.
Tối ấy tôi đứng chảo cạnh anh. Đến mẻ thứ ba, lúc đậu đang rì rào, tôi nói:
– Mai em đi với quản lý thị trường. Họ khám một cái kho. Em không biết ở đấy có gì.
Anh Trụ đảo đều tay. Một lúc lâu anh mới nói.
– Em biết đại lý của anh là ai rồi phải không?
– Em đoán. Em chưa biết.
Anh vặn nhỏ cửa gió. Lửa trong bếp xẹp xuống, đỏ sẫm.
– Bông. Hôm ở xưởng B em im vì anh. Mai ở cái kho ấy có ai, em cứ nói. Có anh trong đấy cũng nói. Có người nhà cũng nói. Đừng vì anh mà im thêm lần nữa. – Anh ngừng một chút. – Nhà mình im thế đủ rồi.
Tôi nhìn anh. Mồ hôi chảy thành dòng trên thái dương anh, nhỏ xuống cổ áo. Anh không lau.
– Anh có muốn nói cho em biết trước không?
– Không. – Anh nói. – Anh muốn em tự thấy. Anh nói ra thì em lại bảo anh đổ cho người khác.
Anh bắc chảo. Đậu đổ ra nong ào ào. Trong tiếng ấy, tôi nghe anh nói thêm một câu, rất nhỏ, như không định cho ai nghe:
– Mà anh cũng không muốn là người nói ra.
Bốn giờ sáng thứ Năm, tôi ngồi trong một chiếc xe bảy chỗ cùng chị Thanh và hai kiểm soát viên, đi theo sau một xe công an. Xe chạy về phía đông bắc, qua một cây cầu nhỏ, vào một con đường liên xã hai bên là ruộng lúa và ao cá. Trời chưa sáng. Đèn xe quét lên những hàng phi lao, những cái lều coi ao lơ thơ.
Địa điểm là một khu nhà kho mái tôn ở cuối một xóm ven sông, tường bao xây gạch không trát, cổng sắt hoen gỉ. Trước cổng có chiếc xe tải nhỏ màu xanh dương đang đỗ, thùng mở. Tôi nhìn thấy cái xe ấy, và tôi thấy tay mình lạnh.
Mọi việc diễn ra nhanh, gọn, không có la hét như tôi tưởng. Công an gõ cổng, xuất trình giấy tờ. Một người đàn ông ra mở, ngái ngủ, áo may ô, rồi tỉnh hẳn khi thấy sắc phục. Chị Thanh và các anh công an đi vào trước. Tôi đi sau, theo lời dặn của chị.
Bên trong kho rộng chừng hai trăm mét vuông, đèn huỳnh quang trắng. Ở một góc, những chồng hộp giấy vàng in cây hoa gạo xếp cao đến trần, hàng nghìn cái, chưa gấp. Một cái máy in phun cầm tay đặt trên bàn, bên cạnh là một tờ giấy ghi tay những dãy số lô, có cả chữ C3. Ở góc khác là một dây chuyền thủ công: mấy cái cối trộn điện loại nhỏ, những bao bột mì, bao bột đậu, thùng mỡ thực vật, và một cái khuôn ép bằng nhôm hai mươi tư ô. Tôi cầm cái khuôn lên. Hai mươi tư bông hoa gạo, đúc thô. Ở ô thứ chín, cánh trên cùng bị khoét một vết vuông. Vết khoét còn mới, mép nhôm sáng.
– Chị nhận dạng giúp tôi. – Chị Thanh nói, giọng đều.
Tôi nhận dạng. Hộp in giả nhãn Hoa Gạo. Khuôn giả. Bánh thành phẩm độn bột, loại bao tải thứ ba. Rồi ở một góc riêng là những khay nhựa dán mẩu giấy in phun C3, khay bánh trần, giống hệt loại tôi đã thấy trong xưởng B. Bên cạnh là một chồng hộp in đẹp và những cuộn giấy thiếc dày đã cắt sẵn từng tờ vuông. Bao tải thứ tư.
Trong lúc kiểm soát viên đếm hàng, lập biên bản, người đàn ông mặc áo may ô bị đưa ra ngồi ở một cái ghế nhựa gần cửa. Tôi nhìn kỹ mặt ông ta. Năm mươi mấy tuổi, mặt dài, da sạm, trên bàn có cái mũ lưỡi trai. Người đàn ông đứng trên thùng xe hôm tôi đến nhà máy lần đầu. Ông Sẻ.
Ông ta cũng nhìn tôi. Ông ta nhận ra tôi. Ông ta quay mặt đi.
Một anh công an đặt chiếc điện thoại của ông Sẻ lên bàn, cạnh biên bản tạm giữ. Đúng lúc ấy, chiếc điện thoại rung lên, màn hình sáng. Một cuộc gọi đến. Tên người gọi lưu trong máy chỉ có hai chữ: "Anh L."
Anh công an nhìn, không nghe, để nó rung đến hết.
Tôi đứng cách cái bàn hai bước. Tôi đọc được dãy số hiện bên dưới cái tên, đọc thầm hai lần cho thuộc. Rồi tôi lấy điện thoại của mình ra, mở danh bạ, so từng số. Không lệch số nào. Dãy số ấy, mười năm nay, mỗi dịp Tết đều gọi cho tôi lúc nửa đêm giao thừa, giọng vui vẻ, bảo: "Út ơi, năm mới anh chúc Út lấy được chồng."
Đó là số của anh Lương.
— Hết chương 13 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe